Chương 1: Trình bày các nội dung cơ bản của nghiên cứu như bối cảnh nghiên cứu, mục đích, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về sinh kế và khung phân tích Luận văn thạc sĩ KT sinh kế bền vững DFID, tóm tắt những nghiên cứu trước từ đó mô tả khung phân tích mà tác giả sử dụng để phân tích trong nghiên cứu này. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu, chọn mẫu, phân tích dữ liệu. Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết Chương 2 và dữ liệu thu thập được của Chương 3 nhằm mục đích trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
Chương 5: Trình bày các giải pháp, đề xuất chính sách có thể giúp các hộ dân bị thu hồi đất có được sinh kế bền vững. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về sinh kế, sinh kế bền vững, tìm hiểu các nghiên cứu trước về vấn đề sinh kế cũng như sinh kế bền vững.1 Định nghĩa sinh kế ( livelihood): Sinh kế được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Một định nghĩa đề cập đến sinh kế là năng lực, tài sản và các hoạt động cần thiết để kiếm sống (CARE, 2005). Một sinh kế có thể được khái niệm hoá bao gồm tài sản (thiên nhiên, thể chất, con người, tài chính, và xã hội), các hoạt động và sự tiếp cận với các nguồn lực (trung gian bởi các thể chế và quan hệ xã hội) cùng xác định mức sống của cá nhân hoặc hộ gia đình (Ellis, 2000).
Một định nghĩa khác của FAO cho rằng, sinh kế không có nghĩa là các hoạt động mà mọi người kiếm được để kiếm sống. Mà nó có nghĩa là tất cả các yếu tố Luận văn thạc sĩ KT khác nhau góp phần hoặc ảnh hưởng đến khả năng của họ để đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình của họ. Điều này bao gồm: (1) tài sản mà hộ gia đình sở hữu hoặc có thể tiếp cận được với con người, tự nhiên, xã hội, tài chính và thể chất; (2) các hoạt động cho phép hộ gia đình sử dụng các tài sản đó để đáp ứng các nhu cầu cơ bản; (3) các yếu tố khác nhau mà chính bản thân hộ gia đình không thể kiểm soát trực tiếp, như vụ mùa, thiên tai hoặc xu hướng kinh tế ảnh hưởng đến tính dễ tổn thương của nó; (4) các chính sách, thể chế và quy trình có thể giúp họ hoặc gây khó khăn cho họ hơn để đạt được một cuộc sống đầy đủ (FAO,2004). Sinh kế là hoạt động kiếm sống của con người thông qua việc sử dụng các nguồn lực (con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội…) trong một môi trường dễ bị tổn thương có sự quản lý của các tổ chức, định chế, chính sách.
(Wikipedia, truy cập ngày 30/11/2017) Các nghiên cứu của Chambers và Conway (1992) cho rằng sinh kế là bao gồm tất cả những tài sản, những khả năng, những hoạt động cần thiết để kiếm sống. 6 Theo DFID (1999) thì sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và hoạt động cần thiết để kiếm sống.2 Sinh kế bền vững (Sustainable livelihoods): Theo Chambers và Conway (1992) cho rằng sinh kế là bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi từ những căng thẳng và cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản, đồng thời không làm suy yếu nguồn tài nguyên thiên nhiên. Theo DFID (1999) cho rằng “Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi vượt qua những căng thẳng, các cú sốc; duy trì và tăng cường hơn nữa năng lực và các nguồn tài sản ở hiện tại cũng như trong tương lai mà không phá hoại các nguồn tài nguyên thiên nhiên”. Hơn nữa, sinh kế bền vững khi họ: (1) có sức chịu đựng trước các cú sốc và căng thẳng bên ngoài; (2) không phụ thuộc vào hỗ trợ bên ngoài; (3) duy trì năng suất lâu dài của tài nguyên thiên nhiên; Và (4) không làm suy yếu sinh kế, hoặc làm tổn hại đến các lựa chọn sinh kế của người khác, (DFID, 1999).
Luận văn thạc sĩ KT Một sinh kế bền vững là nó có khả năng đối phó và phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại hay trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên (Tim Hanstad, Robin Nielsn và Jennifer Brown, 2004, trích bởi Nguyễn Văn Sửu, 2010). Theo Koos Neefjes (2000), sinh kế bền vững là: “ Một sinh kế phải tùy thuộc vào các khả năng và của cải (cả nguồn lực vật chất và xã hội) và những hoạt động mà tất cả là cần thiết để mưu sinh. Sinh kế của một người hay một gia đình là bền vững khi họ có thể đương đầu và phục hồi trước các căng thẳng và chấn động và tồn tục được hoặc nâng cao thêm các khả năng và của cải của mình mà không làm tổn hại đến các nguồn lực môi trường”.3 Bồi thường: Bồi thường là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với diện tích bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (Luật đất đai 2003, 2013). Quá trình bồi thường dùng để đánh giá, đo lường những tổn thất của những người bị 7 thu hồi đất bằng hình thức tiền hoặc hiện vật và được chi trả một lần cho người sở hữu đất.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (Điều 4, Luật Đất đai năm 2003).4 Tái định cư (TĐC): Tái định cư bao hàm cả việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất. Tái định cư theo nghĩa hẹp là quá trình di chuyển người dân đến nơi ở mới.2 Khung phân tích sinh kế bền vững (Sustainable Livelihood Framework): Khung phân tích sinh kế bền vững được xây dựng nhằm mục đích để hiểu và phân tích sinh kế của người nghèo. Đây là một công cụ trình bày các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của người dân và mối quan hệ giữa những yếu tố đó. Hình thức đơn giản nhất của khung là khung nhìn người dân như hoạt động trong một bối cảnh dễ bị tổn thương, trong bối cảnh này họ có quyền tiếp cận một số tài sản nhất định hoặc là Luận văn thạc sĩ KT các yếu tố giảm nghèo.
Bản thân sinh kế không thể tồn tại độc lập mà nó vận động và chịu tác động của các yếu tố khác thông qua môi trường xã hội, thể chế và tổ chức. Môi trường này cũng ảnh hưởng đến các chiến lược sinh kế. Tác giả phân tích dựa vào khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ Phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) như hình 2. Khung phân tích của DFID nhằm mục đích làm tăng tính bền vững sinh kế của người nghèo thông qua: + Cải thiện cách tiếp cận giáo dục, thông tin, công nghệ, đào tạo chất lượng cao.
+ Một môi trường xã hội có sự hỗ trợ và gắn bó hơn. + Tiếp cận an toàn hơn và quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên. + Tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận tốt hơn với cơ sở hạ tầng cơ bản. + Tiếp cận an toàn hơn đến các nguồn tài chính.
8 + Một môi trường chính sách và thể chế hỗ trợ nhiều chiến lược sinh kế và thúc đẩy việc tiếp cận công bằng tới các thị trường cạnh tranh cho tất cả mọi người. Luận văn thạc sĩ KT Hình 2.1: Khung sinh kế bền vững H: Nguồn vốn con người P: Nguồn vốn vật chất N: Nguồn vốn tự nhiên F: Nguồn vốn tài chính S: Nguồn vốn xã hội Nguồn: DFID (1999) Khung sinh kế bền vững đã được phát triển bởi nhiều nhà nghiên cứu nhưng trong khung phân tích này có ba yếu tố cốt lõi đó là “tài sản sinh kế”, “chiến lược sinh kế” và “kết quả sinh kế”.1 Các nhân tố sinh kế chính: 2.1 Bối cảnh dễ bị tổn thương: là môi trường bên ngoài mà trong đó con người tồn tại. Sinh kế của con người và các tài sản sẵn có bị ảnh hưởng cơ bản bởi những xu hướng quan trọng cũng như các cú sốc và tính mùa vụ mà họ bị hạn chế hoặc không kiểm soát được. Các yếu tố của bối cảnh dễ bị tổn thương gồm: + Các cú sốc: thay đổi về sức khỏe con người, tự nhiên, kinh tế, các mâu thuẫn và quá trình thay đổi trong trồng trọt và chăn nuôi.
9 + Các xu hướng: xu hướng về nguồn lực, tài nguyên, kinh tế ( trong và ngoài nước), quản trị ( bao gồm chính trị) và công nghệ. + Tính thời vụ: giá cả, sản xuất, sức khỏe, cơ hội việc làm. Các yếu tố tạo nên bối cảnh dễ bị tổn thương là rất quan trọng vì nó có ảnh hưởng bất lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đến tài sản và đời sống của người dân, từ đó có thể đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế tiêu cực và tìm cách để các tác động bất lợi này ít ảnh hưởng đối với nhóm người dễ bị tổn thương.2 Tài sản sinh kế: Tài sản sinh kế là tài sản thuộc sở hữu, kiểm soát, tuyên bố, hoặc bằng một số phương tiện khác do các hộ gia đình tiếp cận được. Những tài sản này có thể được mô tả như các cổ phiếu vốn có thể được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo ra các phương tiện sống còn của các hộ gia đình "(Ellis, 2000, cũng là ý tưởng của FAO, 2002).
+ Nguồn vốn tự nhiên (Natural capital): là thuật ngữ được sử dụng cho các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Có nhiều nguồn lực tạo thành vốn tự nhiên: từ khí quyển, đa dạng sinh học đến đất đai, cây cối, mùa màng, nguồn nước. Trong khung sinh kế bền vững, nhiều thảm họa tàn phá về sinh kế của người nghèo thường xuất phát từ tiến trình tự nhiên (lũ lụt, cháy rừng, động đất…), vì vậy giữa nguồn vốn tự nhiên và các tổn hại có sự gắn kết với nhau. + Nguồn vốn con người (Human capital): vốn con người thể hiện các kỹ năng, kiến thức, kỹ năng lao động và sức khỏe tốt.
Cùng nhau giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế của họ.