Tổng quan nghiên cứu

Giảm nghèo bền vững là một trong những trụ cột chiến lược phát triển kinh tế xã hội hàng đầu tại Việt Nam, đặc biệt là tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa và khu vực miền núi. Huyện Kon Plông thuộc tỉnh Kon Tum là một trong 62 huyện nghèo trọng điểm của cả nước theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Bước vào giai đoạn khảo sát năm 2014, địa phương ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo lên tới 76,83% với 4.673 hộ, trong bối cảnh hơn 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số như Xê Đăng, Mơ Nâm, Ka Dong và Hre. Địa hình chia cắt hiểm trở cùng khí hậu khắc nghiệt khiến công tác an sinh và giảm nghèo đối mặt với muôn vàn thách thức.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với các chương trình giảm nghèo, phân tích sâu những rào cản hành chính và bất cập trong tổ chức thực thi tại cơ sở. Mục tiêu cụ thể của đề tài gồm ba nội dung: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với chương trình giảm nghèo; đánh giá toàn diện thực trạng triển khai các chính sách hỗ trợ giảm nghèo trên địa bàn huyện Kon Plông; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý công nhằm giúp người dân thoát nghèo bền vững.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian 9 xã thuộc huyện Kon Plông, dữ liệu thực chứng được thu thập trong giai đoạn 2014 - 2018 và định hướng giải pháp đến năm 2025. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp các nhà quản lý địa phương nhận diện điểm nghẽn, góp phần đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm mạnh từ 76,83% xuống còn 32,55% vào năm 2018, đạt tốc độ giảm nghèo bình quân 7%/năm và thúc đẩy thu nhập bình quân đầu người tiệm cận mốc 23 triệu đồng/người/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý luận hành chính công và quản lý nhà nước về kinh tế xã hội. Khung phân tích kế thừa trực tiếp các lý thuyết quản lý hành chính nhà nước, lý thuyết can thiệp công và cách tiếp cận nghèo đa chiều hiện đại của Liên hợp quốc cùng Ngân hàng Thế giới. Theo các tổ chức này, nghèo đói không chỉ đơn thuần là sự thiếu hụt về thu nhập mà còn là tình trạng bị tước đoạt các nhu cầu xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và tiếp cận thông tin.

Mô hình nghiên cứu chuẩn hóa 4 khái niệm cốt lõi: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, chương trình mục tiêu giảm nghèo và quản lý nhà nước về giảm nghèo. Trong đó, quản lý nhà nước về chương trình giảm nghèo được định nghĩa là sự tác động có tổ chức và mang tính quyền lực của bộ máy công quyền nhằm định hướng, điều phối và kiểm soát các nguồn lực xã hội, hướng tới mục tiêu giảm nghèo công bằng, minh bạch và hiệu quả. Khung phân tích vận hành dựa trên 5 nội dung quản lý xuyên suốt: ban hành và phổ biến chính sách; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch; triển khai các dự án hỗ trợ; giám sát, thanh tra, kiểm tra; và xử lý các vi phạm trong thực thi công vụ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2014 - 2018 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kon Plông và nguồn dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa. Cỡ mẫu khảo sát được xác lập chuẩn mực với quy mô 100 cán bộ, công chức, viên chức thuộc Ủy ban nhân dân huyện, các phòng ban chuyên môn và chính quyền 9 xã trực tiếp tham mưu, thực thi chương trình giảm nghèo.

Phương pháp chọn mẫu khảo sát trực tiếp toàn diện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện và am hiểu sâu sắc về chuyên môn nghiệp vụ. Sau thời gian 01 tháng phát phiếu và thu thập, tỷ lệ phản hồi đạt 100/100 phiếu hợp lệ. Lý do tác giả lựa chọn các phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian biến động, số tương đối cơ cấu và số tương đối kế hoạch là nhằm lượng hóa chính xác mức độ biến động của các chỉ tiêu kinh tế xã hội, đánh giá khách quan tỷ lệ hoàn thành kế hoạch theo từng năm và đo lường mức độ đồng thuận của đội ngũ cán bộ công chức đối với quy trình quản lý thực tế tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công tác giảm nghèo tại huyện Kon Plông giai đoạn 2014 - 2018 ghi nhận bước chuyển biến vượt bậc về số lượng hộ thoát nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều đã giảm sâu từ 76,83% (tương ứng 4.673 hộ) năm 2014 xuống còn 32,55% (tương ứng 2.316 hộ) vào cuối năm 2018. Mức giảm bình quân đạt 7%/năm, vượt xa chỉ tiêu 4% đến 5%/năm mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện đã đề ra.

Thứ hai, cơ cấu phân tầng dân cư có sự dịch chuyển hết sức tích cực. Số hộ không nghèo trên địa bàn tăng gần 10 lần, từ 436 hộ vào năm 2014 lên mức 4.062 hộ vào năm 2018. Tỷ lệ hộ cận nghèo cũng được thu hẹp vững chắc từ 16% (973 hộ) năm 2014 xuống còn 10,36% (737 hộ) vào năm 2018, phản ánh tính bền vững của các chính sách an sinh.

Thứ ba, các dịch vụ xã hội cơ bản đạt độ bao phủ ấn tượng nhờ lồng ghép hiệu quả các chính sách an sinh. Trong giai đoạn 2016 - 2018, toàn huyện đã cấp 82.028 lượt thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, riêng năm 2018 đạt 29.074 thẻ. Khám chữa bệnh miễn phí thực hiện cho hơn 90.000 lượt người, đưa 100% số xã (9/9 xã) đạt chuẩn quốc gia về y tế và 97,76% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia.

Thứ tư, chính sách phát triển sinh kế và giáo dục đào tạo được đẩy mạnh với quy mô rộng. Huyện đã tổ chức 18 lớp dạy nghề cho 881 học viên dân tộc thiểu số và triển khai hơn 90 lớp tập huấn khuyến nông, khuyến lâm thu hút hơn 10.000 lượt hộ nghèo tham gia ứng dụng kỹ thuật trồng cà phê xứ lạnh, keo lai và chăn nuôi đại gia súc.

Thảo luận kết quả

Thành công đột phá tại Kon Plông bắt nguồn từ việc tinh gọn và thống nhất bộ máy chỉ đạo. Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện trực tiếp làm Trưởng ban đã phân công rõ trách nhiệm cho Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Phòng Dân tộc. Phương thức quản lý đã chuyển biến mạnh mẽ từ cơ chế hỗ trợ thụ động sang trao quyền tự chủ sinh kế và chuyển giao khoa học kỹ thuật.

Trong báo cáo thực chứng, dữ liệu được trực quan hóa sinh động qua đồ thị phân tích tốc độ giảm nghèo theo chuỗi thời gian, làm nổi bật bước nhảy vọt từ mức giảm 2,39% năm 2015 lên mức giảm kỷ lục 56,52% vào năm 2018. Bảng tổng hợp khảo sát 100 cán bộ công chức cũng phản ánh rõ nét sự đồng thuận cao trong công tác lập kế hoạch nhưng chỉ ra điểm nghẽn ở khâu thanh tra liên ngành.

Khi so sánh với các địa bàn Tây Nguyên lân cận như huyện Ngọc Hồi (tỉnh Kon Tum) với mức giảm nghèo từ 43,22% xuống 29,32% hay huyện Chư Sê (tỉnh Gia Lai), công tác giảm nghèo tại Kon Plông có tốc độ giảm nhanh hơn nhưng tính bền vững chưa thực sự vững chắc. Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 23 triệu đồng/năm chỉ mới hoàn thành 65,7% chỉ tiêu kế hoạch 35 triệu đồng. Nguyên nhân chủ yếu do sản xuất nông nghiệp còn manh mún, giao thông cách trở và tâm lý ỷ lại vào trợ cấp nhà nước của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện công tác ban hành và tuyên truyền chính sách giảm nghèo. Phòng Văn hóa và Thông tin chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân 9 xã đa dạng hóa hình thức truyền thông trực quan, biên dịch tài liệu sang tiếng Xê Đăng và Mơ Nâm, phấn đấu nâng tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận thông tin chính sách đạt trên 95% trong giai đoạn 2021 - 2023.

Thứ hai, đổi mới phương thức triển khai hỗ trợ sinh kế gắn với chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện chủ trì mở rộng các mô hình trồng cây dược liệu, cà phê xứ lạnh và chăn nuôi trâu thương phẩm, hướng tới mục tiêu nâng thu nhập bình quân đầu người lên 35 triệu đồng/người/năm vào năm 2025.

Thứ ba, chuẩn hóa năng lực đội ngũ cán bộ công chức quản lý cơ sở. Phòng Nội vụ phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội định kỳ tổ chức từ 2 đến 3 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm cho 100% cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp xã về kỹ năng điều tra nghèo đa chiều và quản lý dự án cộng đồng giai đoạn 2021 - 2024.

Thứ tư, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong thực thi chính sách. Thanh tra huyện và Ban chỉ đạo giảm nghèo xây dựng kế hoạch thực hiện tối thiểu 15 đến 20 cuộc kiểm tra định kỳ và đột xuất mỗi năm tại 89 thôn làng, công khai 100% danh mục hỗ trợ nhằm phòng ngừa tham nhũng và thất thoát ngân sách trong giai đoạn 2021 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ lãnh đạo và chuyên viên hoạch định chính sách tại các cơ quan nhà nước cấp huyện, cấp tỉnh. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn giúp xây dựng kế hoạch giảm nghèo trung hạn và dài hạn bám sát đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhóm thứ hai là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế và Quản trị công. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận khảo sát 100 cán bộ chuyên trách, phân tích dữ liệu chuỗi thời gian và xây dựng ma trận đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước.

Nhóm thứ ba là các tổ chức phi chính phủ và đơn vị tài trợ phát triển cộng đồng. Dữ liệu thực chứng về nhu cầu sinh kế và các chỉ số thiếu hụt an sinh tại 9 xã huyện Kon Plông giúp các tổ chức thiết kế các dự án viện trợ đúng đối tượng mục tiêu.

Nhóm thứ tư là lãnh đạo chính quyền cơ sở cấp xã tại các huyện nghèo trên toàn quốc. Các bài học kinh nghiệm về điều hành bộ máy liên ngành và lồng ghép nguồn vốn khuyến nông, khuyến lâm tại Kon Plông có thể được áp dụng trực tiếp vào quản trị địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu nghiên cứu cốt lõi của luận văn là gì? Luận văn tập trung đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các chương trình giảm nghèo tại huyện Kon Plông giai đoạn 2014 - 2018. Trên cơ sở số liệu thực chứng, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý công, đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 76,83% xuống 32,55% và định hướng thoát nghèo bền vững đến năm 2025.

Quy mô mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp được thực hiện ra sao? Tác giả đã triển khai khảo sát trực tiếp toàn diện trên cỡ mẫu 100 cán bộ, công chức, viên chức phụ trách công tác giảm nghèo tại các phòng ban huyện và 9 xã. Tỷ lệ phản hồi đạt 100/100 phiếu hợp lệ trong thời gian 01 tháng điều tra, đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan khoa học cao.

Thành tựu giảm nghèo ấn tượng nhất tại huyện Kon Plông giai đoạn 2014 - 2018 là gì? Kết quả nổi bật nhất là số hộ nghèo giảm hơn một nửa, từ 4.673 hộ xuống còn 2.316 hộ, tương ứng mức giảm tỷ lệ nghèo bình quân 7%/năm. Số hộ không nghèo tăng vọt từ 436 hộ lên 4.062 hộ (gấp gần 10 lần) và 100% số xã đều đạt chuẩn quốc gia về y tế.

Những hạn chế lớn nhất trong quản lý chương trình giảm nghèo tại địa phương là gì? Hạn chế chính là thu nhập bình quân đầu người năm 2018 chỉ đạt 23 triệu đồng/năm, mới hoàn thành 65,7% chỉ tiêu đề ra. Công tác tuyên truyền tại một số thôn làng còn mang tính hình thức, công tác kiểm tra đột xuất chưa thường xuyên và nguy cơ tái nghèo còn cao.

Những giải pháp mang tính đột phá nào được đề xuất cho giai đoạn tiếp theo? Luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm: đổi mới truyền thông đa ngữ, chuyển đổi phương thức sinh kế sang liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp, đào tạo chuẩn hóa 100% cán bộ cơ sở và tăng cường tối thiểu 15 đến 20 cuộc thanh tra mỗi năm nhằm đảm bảo minh bạch tuyệt đối nguồn lực.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý luận quản lý nhà nước về chương trình giảm nghèo theo cách tiếp cận đa chiều hiện đại.
  • Đánh giá toàn diện thành tựu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 76,83% xuống 32,55% và gia tăng số hộ không nghèo lên 4.062 hộ tại huyện Kon Plông giai đoạn 2014 - 2018.
  • Nhận diện chính xác các rào cản nội tại về hạ tầng, thu nhập 23 triệu đồng/người/năm và nguy cơ tái nghèo của hơn 80% đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Đóng góp bộ dữ liệu thực nghiệm giá trị từ 100 cán bộ công chức làm căn cứ khoa học cho quản lý công tại địa phương.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi gắn liền với lộ trình triển khai từ năm 2021 đến năm 2025.

Công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt và liên tục đổi mới phương thức điều hành. Các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu và chính quyền địa phương hãy khai thác chi tiết các phát hiện của luận văn để vận dụng hiệu quả vào công tác xây dựng chính sách an sinh xã hội trong giai đoạn phát triển mới.