Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN đối với các chương trình. Chương 2: Thực trạng QLNN đối với các chương trình giảm nghèo trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện QLNN đối với các chương trình giảm nghèo trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. 10 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN CUA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VE CHUONG TRINH GIAM NGHEO 1.
TONG QUAN VE CHUONG TRINH GIAM NGHEO VA QUAN LY NHA NUGC VE CHUONG TRINH GIAM NGHEO 1. Nghèo và các chương trình giảm nghèo a. Khái niệm về nghèo Đói nghẻo là hiện tượng phỏ biến tồn tại ở các quốc gia, dân tộc. Đây là một khái niệm luôn thay đổi theo không gian và thời gian.
Tính đến thời điểm hiện tại, có nhiều nhà khái niệm về nghèo được đưa ra. Theo Liên hợp quốc (UN) (2008): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất dai dé trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa sự không an toàn, không có quyển, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.
Nghèo có nghĩa đễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [26, tr. Theo Ngân hàng thé giới (WB) (1995): “Nghèo là khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vỉ túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ dựa trên thu nhập ma bao gôm các vấn đề liên quan tới dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng để bị tồn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực” [16, tr43]. Tuy nhiên, khái niệm khái quát hơn cả được nêu ra tại Hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo ở khu vực châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Thái Lan vào tháng 9/1993, các quốc gia đã thống nhất cho rằng: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn 11 những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, ty theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương” [I1, tr24].
Ở Việt Nam, khái niệm nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân. cư có điều kiện thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Theo đó, nghèo được phân thành hai loại, đó là nghèo tương đối và nghẻo tuyệt đối. Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống như nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế.
Nghéo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của địa phương, ở một thời kì nhất định. Nhu vay, nghèo được nhận diện qua ba khía cạnh chủ yếu là không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sóng của cộng đồng và thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào. quá trình phát triển của cộng đồng. b, Khái niệm về chương trình giảm nghèo Theo Từ điển tiếng Việt (1996), chương trình là *ếoàn bộ những dự kiến hoạt động theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định [27, tr.
Cũng theo Từ điển tiếng Việt (1996), chương trình giảm nghèo là “toàn bộ các dự kiến, kế hoạch giảm nghèo theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định " [21, tr. Như vậy, mục tiêu của các chương trình giảm nghèo là nhằm cải thiện đời sống vật chất và tỉnh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc, các nhóm dân cư và thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện 12 mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết. Vai trò của các chương trình giảm nghèo Chương trình giảm nghèo mang lại hiệu quả to lớn cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo [21, tr. Các chương trình giảm nghèo giúp người dân có vốn làm ăn, sản xuất, kinh doanh, người nghèo tiếp cận được nguồn vốn, tổ chức phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, tạo việc làm, xuất khâu lao động, hỗ trợ chỉ phí học tập cho con em hộ nghèo, cải thiện nhà ở, môi trường và nước sinh hoạt.
Nhờ đó, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Đời sống của người dân được cải thiện, đóng góp nhiều vào nguồn ngân sách nhà nước. Số tiền đó được Nhà nước phân phối, trợ giúp cho các xã, huyện, tỉnh trên cả nước. Cơ sở hạ tầng trên địa bàn các huyện nghèo, xã nghèo được cải thiện rõ rệt, đời sống người nghèo được cải thiện, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản được nâng lên.
Chỉ nhờ các chính sách giảm nghèo, người nghèo mới được cải thiện chất lượng cuộc sông, tiếp cận đầy đủ hơn các dịch vụ xã hội cơ bản, từ đó nâng cao thu nhập, thoát nghèo bền vững, Chính sách giảm nghèo được thiết kế theo chuỗi các sản phẩm tín dung để phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác theo tiến trình phát triển của họ. Theo nguyên tắc ưu tiên hộ nghèo rồi mới đến hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo nên tạo được một hệ thống đồng bộ, bao phủ các nhóm. tượng thụ hưởng, hỗ trợ đa chiều cho người dân không chỉ giảm nghèo mà còn thoát nghèo bền vững.2 Quản lý nhà nước về chương trình giảm nghèo. Khái niệm, đặc điểm về quản lý nhà nước về chương trình giảm nghèo Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay, quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội, hành vi hành 13 động của con người dé chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý [13, tr.
Theo cách hiểu này, quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý. Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý. Quản lý nhà nước về chương trình giảm nghèo là hoạt động vừa mang tính chấp hành, vừa mang tính điều hành [§, tr. Tính chấp hành thể hiện ở sự thể hiện trên thực tế các văn bản hiến pháp, luật, pháp lệnh và nghị quyết của cơ quan lập pháp, cơ quan dân cử.
Tính hành thể hiện ở việc dam bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực được thực hiện trên thực tế và các chủ thê quản lý hành chính nhà nước phải thực hiện các hoạt động tô chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền. Muốn hai yếu tố này thống nhất, quản lý hành chính nhà nước phải đảm bảo việc chấp hành các văn bản của cơ quan dân cử đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, từ đó, thực hiện quản lý điều hành. Mọi hoạt động chấp hành và điều hành phải nhằm mục đích phục vụ nhân dân, đảm bảo cho đời sống xã hội cho nhân dân để giúp giảm nghèo nhanh, bền vững. Như vậy, quản lý nhà nước về chương trình giảm nghèo là sự tác động có tổ chức bằng pháp quyền của Nhà nước đối với các chương trình giảm nghèo của các cơ quan nhà nước để định hướng hoạt động của các chương trình giảm nghèo được diễn ra đảm bảo mục tiêu công bằng, minh bạch, hiệu quả kinh tế, qua đó góp phần thực hiện hiệu quả những mục tiêu kinh t hội của đất nước.
Quản lý nhà nước về chương trình giảm nghèo có đặc điểm như sau: + Hoạt động quản lý nhà nước về chương trình giảm nghèo cần có tính chủ động và sáng tạo [21, tr. Theo đó, các chủ thể quản lý hành chính căn cứ vào tình hình, đặc điểm của từng đối tượng quản lý để đề ra các biện pháp. 14 quản lý thích hợp. Tính chủ động, sáng tạo thể hiện trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính để điều chỉnh các hoạt động quản lý của Nhà nước về giảm nghèo.
Tính chủ động sáng tạo là yêu cầu tất yếu nằm trong sự phức tạp, đa dạng, phong phú của người nghèo và yêu cầu các cơ quan quản lý nhà nước phải sử dụng các biện pháp giải quyết mọi tình huống một cách linh động, hiệu quả nhất. Tuy nhiên, phải đảm bảo không được vượt ra ngoài phạm vi của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật nhà nước. + Quản lý nhà nước về chương trình giảm nghèo có mục tiêu chiến lược, có chương trình và có kế hoạch đề thực hiện mục tiêu [21, tr. Đây là hoạt động có mục đích và có định hướng rõ rệt.Vì vậy, phải có chương trình, kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm.
Có các chỉ tiêu vừa mang tính định hướng, vừa mang tính pháp lệnh; có hệ thống pháp luật vừa được áp dung thực thi triệt để cho hoạt động quản lý, vừa tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đặt dưới sự quản lý ấy. + Không có sự cách biệt tuyệt đối về mặt xã hội giữa chủ thê quản lý và chủ thể của quản lý (chủ thể chịu sự quản lý) [21, tr. Cán bộ Quản lý nhà nước phải là "công bộc" của nhân dân, biết lắng nghe ý của quần chúng. nhân dân, thu hút được rộng rãi quần chúng nhân dân tham gia vào việc quá trình quản lý Nhà nước công tác giảm nghèo bền vững.
+ Quản lý nhà nước về chương trình giảm nghèo phải có tính chuyên môn hóa và nghề nghiệp cao [21, tr. Đó chính là nghiệp vụ của một nền quản lý Nhà nước văn minh, hiện đại. Khi nói đến một "nền kinh tế tri thức" thì đội ngũ thực hiện công tác quản lý nhà nước về chương trình giảm nghèo phải có một tầm vóc tương xứng. Quản lý nhà nước về chương trình giảm nghèo bền vững yêu cầu cần có trình độ kiến thức chuyên môn và kỹ năng quản lý thực tiễn làm tiêu chuẩn hàng đầu.
15 Tính không vụ lợi [21, tr. Quản lý nhà nước nhất là đối với lĩnh vực giảm nghèo bền vững cần phải coi việc phục vụ lợi ích công làm động cơ và mục đích của hoạt động.