CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về nghèo đa chiều 1. Nghiên cứu ngoài nước Ngay từ cuối những năm 1980, quan niệm nghèo được hiểu một cách đơn giản dưới góc độ nghèo tuyệt đối, đó là “không đủ tiền để chi tiêu cho các nhu cầu cơ bản”. Bổ sung vào quan niệm trên, NHTG (1995) kết luận rằng “nghèo là tình trạng một cá nhân không có đủ tiền để mua lương thực thực phẩm để có thể duy trì được cuộc sống của mình, để cho con đi học, để chữa bệnh khi ốm đau, kèm theo đó là tình trạng không có việc làm trong cả dài hạn và ngắn hạn”.
Bên cạnh đó, NHTG (1995) không chỉ đề cập đến các thước đo đói nghèo (chủ yếu tiếp cận dưới góc độ thu nhập) mà còn chỉ ra được nguyên nhân của đói nghèo, trong đó nguyên chủ yếu là sự hạn chế trong việc tiếp cận với các nguồn lực để sản xuất kinh doanh. Trong giai đoạn đầu khi định nghĩa và xây dựng giải pháp tấn công đói nghèo, hầu hết đều tiếp cận theo phương pháp đơn chiều, chủ yếu là tiếp cận từ thu nhập. Tuy nhiên, UNDP (1997) đã đề cập đến khái niệm nghèo khổ dựa trên cơ sở quan điểm về phát triển con người, gọi là “nghèo khổ tổng hợp” hay “nghèo khổ con người”. Khác với các tiếp cận nghèo thu nhập, nghèo khổ con người liên quan đến việc loại bỏ các “cơ hội” và “sự lựa chọn” của con người để đảm bảo một cuộc sống cơ bản nhất hoặc khá hơn là một cuộc sống có thể chấp nhận được.
Từ đó thước đo mới là “Chỉ số Nghèo khổ Con người (HPI)” được công bố trong báo cáo của UNDP. Chỉ số HPI chủ yếu phản ánh sự thiếu hụt về ba khía cạnh như giáo dục, sức khỏe và mức sống. Tuy nhiên, trong các chỉ báo hợp phần của HPI, không thấy sự hiện diện của các chỉ báo trên lĩnh vực kinh tế. Bởi vậy, HPI cũng không phải là thước đo để đo lường nghèo khổ đa chiều.
Năm 2000, NHTG công bố một nghiên cứu khác về đói nghèo trên phạm vi toàn cầu, theo đó NHTG (2000) khẳng định bản chất của đói nghèo là đa chiều (như đã đề cập ở trên). Thừa kế sự phát triển về quan niệm như trên, thước đo đói nghèo cũng được thay đổi theo hướng tiếp cận đơn chiều từ thu nhập sang tiếp cận đa chiều. Sabina Alkire và James Foster (2007 và 2011a), đã tập trung vào diễn giải phương pháp đo lường nghèo theo cách tiếp cận đa chiều. Tiếp đó, Alkire và Foster (2011b) cũng chỉ ra 5 điểm cần lưu ý liên quan đến dữ liệu phân tích cũng như các khía cạnh tiếp cận khi đo lường.
Được đánh giá cao nên phương pháp của Alkire và Foster đã 11 được nhiều nghiên cứu sử dụng để đánh giá thực trạng nghèo của các quốc gia, có thể kể đến là những nghiên cứu của Santos và Ura (2008); Alkire và Seth (2008); Yele Batana (2008). Mặc dù gặp khó khăn về sự đầy đủ của dữ liệu, nhưng các nghiên cứu đều khẳng định đánh giá nghèo đa chiều hoàn toàn có thể thực hiện được và nó cần thiết phải được thực hiện vì như vậy mới đảm bảo nhận diện được đầy đủ bản chất của nghèo khổ. Cách tiếp cận này được UNDP chính thức công bố trong “Báo cáo Phát triển con người” (UNDP (2010a)). “Chỉ số nghèo khổ đa chiều” (MPI- Multidimensional Poverty Index) được xây dựng trên nền tảng phương pháp đo lường của Alkire và Foster nhưng thêm vào đó UNDP tiếp cận theo phương diện phát triển con người.
Cũng giống như HPI, MPI phản ánh mức độ thiếu hụt của mỗi cá nhân theo ba khía cạnh: sức khỏe; giáo dục và mức sống. Tuy cùng đo lường nghèo khổ trên ba khía cạnh như HPI nhưng các chỉ báo trong mỗi khía cạnh của MPI nhiều hơn và được dùng chung cho các quốc gia trên thế giới. Chỉ số này là sự kết hợp giữa việc đo lường phạm vi của nghèo khổ cũng như mức độ trầm trọng của nghèo khổ thông qua đánh giá các chiều thiếu hụt. Mặc dù giữa hai khía cạnh này có sự tương quan nhất định, nhưng sự kết hợp giữa 2 chiều này sẽ củng cố thêm sự chính xác về nhận diện đối tượng nghèo.
Tuy nhiên, việc đánh giá và đo lường nghèo theo cách tiếp cận đa chiều không chỉ giúp các quốc gia nhận điện đúng hơn đối tượng nghèo, mà nó còn dùng để theo dõi các MDGs - “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ”. Điều này được Alkire, S. MPI đã giúp các quốc gia đánh giá đúng và đủ hơn đối tượng nghèo như nghiên cứu của Alkire, Seth (2015), kết quả nghiên cứu chỉ ra trong 47% tỷ lệ nghèo theo góc độ đa chiều hoặc thu nhập thì chỉ có 14% là nghèo ở cả 2 góc độ, đặc biệt nghiên cứu đã cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ nghèo giữa thành thị và nông thôn trở nên nghiêm trọng hơn khi tiếp cận theo góc độ đa chiều, tốc độ giảm nghèo ở thành thị chậm hơn do có hiện tượng di dân. Về các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo khổ, có nhiều nghiên cứu chỉ ra được nhiều yếu tố khác nhau có thể giúp làm giảm tình trạng nghèo khổ - gồm có: tín dụng và bảo hiểm (Jalan & Ravallion, 1999); giáo dục (Dreze & Sen, 1995); y tế (Strauss & Thomas, 1998); thông tin (Rodrik, 2002); cải tiến công nghệ (Conway, 1997; Schumacher, 1973); tăng trưởng kinh tế (Dollar và Kraay (2000); cải cách ruộng đất (Herring, 2002); tổ chức cộng đồng (Esman & Uphoff, 1984); khả năng quản lý (Heckman, 2000); nối kết thị trường (Bauer, 1984); lạm phát (Gaiha, 1989b); quyền sở hữu tài sản (de Soto, 2000); vốn xã hội (Hirschmann, 1984; Krishna, 2001); v.
Ngăn 12 chặn tình trạng rơi vào cảnh nghèo sẽ được các biện pháp từ các nhân tố nói trên hỗ trợ, trong khi việc đẩy mạnh xu hướng thoát nghèo sẽ đòi hỏi một nhóm các công cụ chính sách khác. Nghiên cứu của Shrabanti Maity; Jeroen Buysse (2017), cho rằng sự tham gia của người nghèo vào các chính sách của nhà nước (được gọi là sự hợp tác chính trị đầy đủ - full political cooperation) sẽ giúp làm giảm nghèo đa chiều ở các hộ nghèo. Nghiên cứu cũng chỉ ra được các yếu tố giúp làm giảm nghèo đó là tình trạng việc làm của những người trong độ tuổi lao động trong hộ gia đình, cũng như khoảng cách của nơi sinh sống của hộ nghèo với vùng trung tâm, nhưng các tác giả cũng khẳng định, các nhân tố này muốn được cải thiện thì cần có các chính sách tạo việc làm của chính phủ cũng như từ cơ chế và chính sách đầu tư của chính quyền địa phương và trung ương Ở dòng lịch sử nghiên cứu khác, nhiều nghiên đã chỉ ra rằng thể chế và các thước đo cụ thể của thể chế có ảnh hưởng đến nghèo khổ, gồm có nghiên cứu của Sen (1999), Grindle (2004), Acemoglu và Robinson (2013), Chong và Calderón (2000), Perera và Lee (2013)… Phần lớn các nghiên cứu này đều cho rằng, thể chế tốt có tác động tốt đến giảm nghèo, còn các khía cạnh cụ thể của thể chế (thông qua các chỉ số đo lường thể chế) có những tác động khác nhau đến giảm nghèo. Nghiên cứu trong nước Giảm nghèo là một trong những mục tiêu được quan tâm hàng đầu ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đói nghèo được thực hiện. Bức tranh về đói nghèo đã được tái hiện khá sắc nét ở Việt Nam trong thời gian rất sớm được công bố bởi Ngân hàng Thế giới (1995). Sau đó, nhiều công trình nghiên cứu về nghèo, nhưng những công trình này đều thống nhất sử dụng khái niệm nghèo dưới góc độ thu nhập (hay đơn chiều). Nghiên cứu đầu tiên sử dụng cách tiếp cận đa chiều về nghèo là của MOLISA và UNICEF (2008).
Với nhóm đối tượng có nguy cơ nghèo cao là trẻ em, nghiên cứu này đã khẳng định Việt Nam hoàn toàn có thể tiến hành đánh giá được nghèo khổ theo cách tiếp cận đa chiều. Sử dụng số liệu VHLSS năm 2006, NHTG và TCTK ước tính xấp xỉ 18% trẻ em không thuộc diện nghèo theo cả góc độ đa chiều và thu nhập. Kết quả này dẫn đến một nhận định là cần bổ sung các khía cạnh khác trong đánh giá về nghèo bên cạnh khía cạnh về thu nhập. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng khuyến cáo để có được những kết luận chính xác về tình trạng nghèo đa chiều cần sẵn có thông tin phản ánh các tiêu chí khác nhau của nghèo.
13 TCTK và UNICEF (2011) đã thực hiện điều tra nghèo đa chiều trên phạm vi cả nước trong khi chưa có sự thống nhất về phạm trù nghèo đa chiều ở Việt Nam. Nghiên cứu đã một lần nữa chỉ ra cần phải nhìn nhận bản chất của nghèo dưới góc độ đa chiều để hướng đến việc giảm nghèo bền vững. Tuy nhiên, với sự hạn chế của dữ liệu nên các nhận định về tình trạng nghèo chưa thực sự thuyết phục. Ở góc độ nghiên cứu khác, UNDP (2010b) đã mở ra hướng đi mới trong tấn công nghèo khổ ở những địa phương có tỷ lệ nghèo thu nhập ít.
Nhưng các khuyến nghị chính sách chưa có đóng góp lớn cho chính phủ trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững ở Việt Nam. Những thành công và thách thức trong giảm nghèo một lần nữa lại được nêu ra trong nghiên cứu của NHTG (2012). NHTG đã khuyến cáo chính phủ Việt Nam cần lưu ý cách tiếp cận giải quyết nghèo khổ. Trong đó, khuyến cáo chính phủ Việt Nam muốn giảm nghèo bền vững cần nghĩ đến thay đổi cách tiếp cận nghèo đơn chiều như hiện nay sang tiếp cận nghèo đa chiều.
Một nghiên cứu các tác giả Tran Q., Alkire và Foster (2015) dựa trên về nghèo thu nhập và nghèo đa chiều ở Việt Nam dựa trên bộ dữ liệu VHLSS 2007, 2008 và 2010, đã chỉ ra một số nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng nghèo đa chiều của hộ. Thứ nhất, mối quan hệ giữa quy mô hộ gia đình và nguy cơ nghèo đa chiều có dạng một hàm lồi. Thứ hai, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nghèo giảm đáng kể khi trình độ học vấn của chủ hộ tăng. Các hộ gia đình có học vấn càng thấp (không đi học hoặc chỉ học đến tiểu học) có nguy cơ nghèo cao hơn những hộ khác.
Thứ ba, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có sự khác biệt về rủi ro nghèo đa chiều giữa những nhóm dân tộc khác nhau. Những nhóm dân tộc thiểu số thường sống ở những khu vực hạ tầng kém phát triển, do đó hạn chế trong tiếp cận giáo dục, y tế, chợ nên có rủi ro nghèo và cường độ nghèo cao hơn.