Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Tác động của thể chế đến nghèo đa chiều ở Việt Nam" được thực hiện trong bối cảnh nhận thức về đói nghèo trên phạm vi quốc tế và tại Việt Nam có sự chuyển dịch căn bản từ tiếp cận đơn chiều dựa trên thu nhập sang tiếp cận đa chiều. Báo cáo "Tiếng nói của người nghèo" của Ngân hàng Thế giới (2000) chỉ ra bốn biểu hiện cốt lõi của nghèo khổ gồm: khốn cùng về vật chất; không có khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục; nguy cơ tổn thương cao; thiếu tiếng nói và quyền lực. Thực tiễn quốc tế cho thấy tốc độ giảm chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI) có sự chênh lệch lớn giữa các quốc gia: Ấn Độ, Nicaragua, Armenia và Bắc Macedonia giảm được một nửa chỉ số MPI trong 5,5 đến 10,5 năm; trong khi Trung Quốc, Indonesia có tốc độ giảm chậm hơn; ở nhóm nước thu nhập thấp, Sierra Leone và Liberia đạt tốc độ giảm nhanh nhất, tiếp sau là Guinea và Rwanda (WB, 2020; UNDP, 2020). Nguyên nhân của sự phân hóa này bắt nguồn từ ba nhóm nhân tố: bản thân người nghèo (tín dụng, bảo hiểm, y tế, giáo dục, thông tin, công nghệ, việc làm, khoảng cách địa lý); tăng trưởng kinh tế (Dollar và Kraay, 2002); và thể chế cùng chính sách đi kèm (Maddison, 1995; Solow, 2001; ADB, 2010; Acemoglu và Robinson, 2013).
Tại Việt Nam, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011–2020 đã xác định cải cách và đổi mới thể chế là một trong ba mũi trọng tâm chiến lược. Báo cáo "Việt Nam 2035" cũng khẳng định hoàn thiện thể chế là định hướng dài hạn dựa trên ba trụ cột: nhà nước pháp quyền hiện đại, kinh tế thị trường phát triển đầy đủ và xã hội dân chủ. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu kinh tế tại Việt Nam trước đây chủ yếu xem xét các yếu tố kinh tế (tăng trưởng, phân phối thu nhập) hoặc tiếp cận nghèo đơn chiều theo thu nhập, chưa lượng hóa đầy đủ tác động trực tiếp của thể chế đến nghèo đa chiều. Khoảng trống này đặt ra yêu cầu đánh giá khoa học về mối quan hệ giữa thể chế và nghèo đa chiều.
Mục tiêu tổng quát của luận án là hoàn thiện cơ sở khoa học (lý luận và thực tiễn) về tác động của thể chế đến nghèo đa chiều ở Việt Nam, nhận diện bất cập cùng nguyên nhân, từ đó đề xuất giải pháp giảm nghèo đa chiều dưới góc độ thể chế. Các mục tiêu cụ thể gồm:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa lý luận về tác động của thể chế đến nghèo đa chiều; hoàn thiện cách tiếp cận và phương pháp đánh giá tác động; hệ thống hóa các nhân tố ảnh hưởng.
- Về mặt thực tiễn: Đánh giá thực trạng thể chế, thực trạng nghèo đa chiều và các nhân tố ảnh hưởng tại Việt Nam; lượng hóa tác động thực nghiệm của thể chế đến nghèo đa chiều nhằm phát hiện nguyên nhân trực tiếp của các tồn tại; đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp giảm nghèo đa chiều từ cách tiếp cận thể chế kết hợp dự báo bối cảnh mới.
Luận án xây dựng ba câu hỏi nghiên cứu chính:
- Tác động của thể chế đến nghèo đa chiều ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Với các vùng khác nhau, các địa phương có trình độ phát triển khác nhau thì tác động của thể chế đến nghèo đa chiều khác nhau như thế nào?
- Tác động của từng khía cạnh cụ thể của thể chế đến nghèo đa chiều hiện nay như thế nào?
Bên cạnh đó, luận án trả lời hai câu hỏi phụ:
- Thực trạng thể chế và nghèo đa chiều ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Những khuyến nghị chính sách cụ thể là gì để giảm nghèo bền vững từ cách tiếp cận của thể chế?
Đối tượng nghiên cứu là tác động của thể chế đến nghèo đa chiều ở Việt Nam. Về phạm vi nội dung, luận án tập trung vào thể chế chính thức (formal institutions) theo phân loại của North (1990); tập trung vào kênh tác động trực tiếp; và sử dụng 6 trục nội dung gốc của Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp Tỉnh ở Việt Nam (PAPI) làm thước đo thể chế chính thức. Về phạm vi không gian, nghiên cứu thực hiện ở cấp địa phương (cấp tỉnh) trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Về phạm vi thời gian, nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2016–2018 gắn với việc triển khai chuẩn nghèo đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ áp dụng cho giai đoạn 2016–2020, đồng thời sử dụng chuỗi dữ liệu dài hạn hơn để phân tích thực trạng thể chế.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu quốc tế về nghèo đa chiều ghi nhận sự chuyển biến từ quan niệm nghèo tuyệt đối cuối thập niên 1980 sang định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (1995) về việc thiếu tiền mua lương thực, dịch vụ giáo dục, y tế và thất nghiệp kéo dài. UNDP (1997) công bố Chỉ số Nghèo khổ Con người (HPI) phản ánh thiếu hụt về giáo dục, sức khỏe và mức sống nhưng thiếu các chỉ báo kinh tế. Ngân hàng Thế giới (2000) khẳng định bản chất đa chiều của nghèo đói. Alkire và Foster (2007, 2011a, 2011b) hoàn thiện phương pháp đo lường nghèo đa chiều (phương pháp AF), làm nền tảng cho các nghiên cứu của Santos và Ura (2008), Alkire và Seth (2008), Yele Batana (2008). UNDP (2010a) chính thức công bố Chỉ số Nghèo khổ Đa chiều (MPI) để giám sát các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs). Alkire và Seth (2015) chỉ ra trong 47% tỷ lệ nghèo theo giác độ thu nhập hoặc đa chiều thì chỉ có 14% nghèo ở cả hai giác độ, đồng thời tốc độ giảm nghèo đa chiều ở đô thị diễn ra chậm hơn nông thôn do di dân.
Về phía các nhân tố tác động đến nghèo khổ, các nghiên cứu quốc tế đã ghi nhận vai trò của tín dụng và bảo hiểm (Jalan và Ravallion, 1999); giáo dục (Dreze và Sen, 1995); y tế (Strauss và Thomas, 1998); thông tin (Rodrik, 2002); cải tiến công nghệ (Conway, 1997; Schumacher, 1973); việc làm và khoảng cách địa lý (Shrabanti Maity và Jeroen Buysse, 2017); cải cách ruộng đất (Herring, 2002); khả năng quản lý (Heckman, 2000); kết nối thị trường (Bauer, 1984); lạm phát (Gaiha, 1989b); quyền sở hữu tài sản (de Soto, 2000); vốn xã hội và tổ chức cộng đồng (Hirschmann, 1984; Krishna, 2001; Esman và Uphoff, 1984; Grindle, 2004).
Về nội hàm thể chế, tài liệu quốc tế chia thành ba dòng lịch sử: (1) Thể chế là quy tắc, luật lệ (Parsons, 1990; North, 1990; Nugent, 2004; Rodrik, 1999; WB, 1997); (2) Thể chế là các tổ chức (Spencer, Sumner, trường phái Selznick trong Scott, 2007); (3) Thể chế bao gồm cả quy tắc và tổ chức, hay "luật chơi" và "người chơi" (Commons; Williamson, 2000; Nabli và Nugent, 1989; Acemoglu và Robinson, 2013). Các chỉ số đo lường thể chế cấp quốc gia gồm: WDR97 của Ngân hàng Thế giới (1997); KKZ và WGI (Kaufmann, Kraay và Mastruzzi, 1999, 2003, 2010); Chỉ số Nhận thức Tham nhũng của Transparency International (1995); Freedom House (1973); International Country Risk Guide (Knack và Keefer, 1995; Hall và Jones, 1999; Acemoglu và cộng sự, 2001); và Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu (GCR).
Về tác động của thể chế đến nghèo khổ, tài liệu thực nghiệm quốc tế ghi nhận nhiều kết quả đa chiều:
- Tác động tích cực tổng thể: Sen (1999), Grindle (2004). Rizk (2012) phân tích dữ liệu mảng 71 quốc gia đang phát triển, chỉ ra hệ số giữa thể chế và chỉ số HPI là -1,75. Siddique và cộng sự (2016) sử dụng mô hình OLS và Arellano-Bond cho 6 quốc gia Trung Á giai đoạn 1996–2012 khẳng định chất lượng bộ máy hành chính là yếu tố then chốt. Baldini và cộng sự (2017), Christoph Jindra và Ana Vaz (2019) dùng mô hình Probit xác nhận thể chế tốt thúc đẩy giảm nghèo đa chiều ở các nước thu nhập trung bình nhưng không rõ nét ở nước thu nhập thấp.
- Kênh gián tiếp qua tăng trưởng kinh tế: Dollar và Kraay (2002), Perera và Lee (2013), Barro (1997), Hall và Jones (1999), Acemoglu và cộng sự (2001), Rodrik và cộng sự (2004).
- Tác động của từng khía cạnh thể chế: Chong và Calderón (2000) hồi quy OLS trên 45 nước phát hiện sự từ chối hợp đồng, rủi ro tước đoạt và chất lượng hành chính tác động có ý nghĩa. Hasan và cộng sự (2007) khảo sát 80 nước nhận thấy các cấu phần của chỉ số EDBI có tác động gián tiếp. Tebaldi và Mohan (2010) dùng biến công cụ cho 53 quốc gia, xác định kiểm soát tham nhũng, chất lượng lập pháp, pháp quyền, hiệu lực chính quyền, tiếng nói và trách nhiệm giải trình tác động nghịch chiều có ý nghĩa tới nghèo. Ngược lại, Perera và Lee (2013) dùng phương pháp GMM trên 9 nước châu Á giai đoạn 1985–2009 cho thấy ổn định chính trị và pháp quyền làm giảm nghèo, nhưng tham nhũng, dân chủ, trách nhiệm giải trình và chất lượng hành chính lại làm tăng nghèo do gia tăng bất bình đẳng. Zouhaier (2019) phân tích 6 khía cạnh WGI tại châu Phi giai đoạn 1996–2016, thấy hiệu quả chính quyền tác động tích cực ở Trung và Đông Phi nhưng mang dấu âm ở Tây Phi. Cuestas và Intartaglia (2016) khảo sát 69 nước giai đoạn 1984–2013, nhận thấy hồi quy đa biến cho kết quả âm có ý nghĩa nhưng ước lượng GMM không có ý nghĩa thống kê trong ngắn hạn.
- Tác động đến từng chiều cạnh của nghèo: Jenkins (2005) về tiếp cận y tế, giáo dục; Lazarova (2006a, 2006b) về tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở 112 nước; Siddique và cộng sự (2016) về chỉ tiêu giáo dục.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu nghèo đơn chiều gồm Ngân hàng Thế giới (1995), Lê Quốc Hội (2009) tính toán tăng trưởng kinh tế 1% làm giảm 1,35% nghèo đói; Ngân hàng Thế giới (2012) tính toán tăng trưởng phi nông nghiệp tăng 10 điểm phần trăm làm giảm 1,86% tỷ lệ nghèo. Nghiên cứu nghèo đa chiều gồm: MOLISA và UNICEF (2008) dùng dữ liệu VHLSS 2006 ước tính 18% trẻ em không nghèo cả hai giác độ; TCTK và UNICEF (2011); UNDP (2010b); Tran, Alkire và Foster (2015) dùng dữ liệu VHLSS 2007, 2008, 2010 chỉ ra quan hệ hàm lồi giữa quy mô hộ và rủi ro nghèo đa chiều, học vấn chủ hộ làm giảm nghèo; Lê Thị Thanh Loan và Nguyễn Thanh Bình (2018) dùng mô hình Binary Logit; Đỗ Kim Chung và cộng sự (2015) phân tích năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và tổ chức thực thi tại Tây Bắc. Về thể chế, các nghiên cứu trong nước gồm Nguyễn Vũ Hoàng (2013), Nguyễn Lê Huyền (2015), Lê Xuân Bá (2006, 2014), Hoàng Văn Hoà (2017), Đặng Ngọc Dinh (2017), Nguyễn Văn Phúc (2013). Về quan hệ giữa thể chế và nghèo, UNDP và VASS (2016) nêu rào cản thể chế là nguyên nhân nghèo vùng; Nguyễn Việt Cường và cộng sự (2019) dùng hồi quy phân vị hiệu ứng cố định cấp hộ với chỉ số PAPI chỉ ra quản trị công tốt giúp giảm nghèo thu nhập.
Bốn khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định gồm:
- Mâu thuẫn trong kết quả thực nghiệm quốc tế về chiều hướng tác động của thể chế đến giảm nghèo chưa được giải thích thỏa đáng trong bối cảnh cụ thể.
- Các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận nghèo đơn chiều theo thu nhập, thiếu vắng các công trình lượng hóa tác động của thể chế đến nghèo đa chiều.
- Thiếu vắng nghiên cứu lựa chọn thước đo thể chế phù hợp với bối cảnh chuyển đổi kinh tế và hiện tượng "trôi dạt thể chế" (Acemoglu và Robinson, 2013) tại Việt Nam.
- Đa số các mô hình quốc tế áp dụng ở cấp độ quốc gia với chuỗi thời gian dài, thiếu các mô hình phân tích ở cấp độ địa phương (tỉnh/thành phố) phù hợp với chuỗi dữ liệu nghèo đa chiều mới ban hành từ năm 2016 của Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên khung lý thuyết kinh tế học thể chế và lý thuyết nghèo đa chiều. Về nghèo đa chiều, luận án tổng hợp ba quan điểm của UNDP (1997), Ngân hàng Thế giới (2000) và quy định pháp lý của Việt Nam tại Quyết định 59/2015/QĐ-TTg:
| Khía cạnh |
UNDP (1997) |
Ngân hàng Thế giới (2000) |
Việt Nam (Quyết định 59/2015/QĐ-TTg) |
| Nhu cầu vật chất |
Khả năng tiếp cận nguồn lực tư nhân và xã hội thấp |
Thu nhập thấp |
Thu nhập thấp |
| Giáo dục |
Thiếu giáo dục cơ bản |
Sự thiếu thốn về giáo dục |
Tiếp cận giáo dục thấp |
| Y tế |
Tuổi thọ thấp |
Sự thiếu thốn về y tế |
Tiếp cận dịch vụ y tế kém; Bảo hiểm y tế không đầy đủ |
| Chất lượng cuộc sống |
Không đề cập trực tiếp |
Mức độ rủi ro cao hơn; Tiếng nói và quyền lực thấp |
Diện tích nhà ở không bảo đảm; Thiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh; Thiếu nhà vệ sinh đạt chuẩn; Tiếp cận thông tin thấp |
Về thể chế, luận án tiếp cận theo định nghĩa của North (1990) gồm thể chế chính thức và thể chế phi chính thức; lý thuyết của Acemoglu và Robinson (2013) phân định giữa thể chế kinh tế dung hợp (bảo đảm quyền tài sản, hợp đồng, cơ hội thị trường) và thể chế kinh tế chiếm đoạt (rào cản gia nhập, thiếu minh bạch), thể chế chính trị dung hợp (phân bổ quyền lực rộng rãi, pháp quyền) và thể chế chính trị tước đoạt (quyền lực tập trung); cùng quan điểm của Ngân hàng Thế giới (2000) và IMF (Camdessus, 1999).
Để đo lường thể chế cấp địa phương, luận án phân tích các thước đo quốc tế và các chỉ số hiện hành tại Việt Nam (PCI, PAR INDEX, SIPAS, PAPI) theo đánh giá tổng hợp:
| Bộ chỉ số |
Phạm vi và cấu phần chính |
Tính ứng dụng trong nghiên cứu của luận án |
| WDR97 (WB, 1997) |
Thay đổi chính sách; dịch vụ hành chính; tham nhũng; thay đổi luật pháp ở 67 quốc gia |
Thấp (chỉ khảo sát khu vực doanh nghiệp tư nhân cấp quốc gia) |
| KKZ / WGI (Kaufmann và cộng sự, 1999, 2010) |
Tiếng nói và giải trình; ổn định chính trị; hiệu lực chính quyền; chất lượng lập pháp; pháp quyền; kiểm soát tham nhũng |
Trung bình (đo lường cấp quốc gia, không áp dụng được cho cấp tỉnh) |
| ICRG |
Tham nhũng; pháp quyền; chất lượng hành chính; trách nhiệm giải trình |
Thấp (áp dụng cấp quốc gia dựa trên đánh giá rủi ro quốc tế) |
| PCI (Việt Nam) |
10 chỉ số thành phần về điều hành kinh tế cấp tỉnh |
Thấp (phản ánh đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp, không phản ánh toàn diện người dân) |
| PAR INDEX & SIPAS (Việt Nam) |
Cải cách thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, mức độ hài lòng dịch vụ hành chính |
Trung bình (thiên về cung ứng dịch vụ công thuần túy; SIPAS mới triển khai từ năm 2017) |
| PAPI (Việt Nam) |
6 trục nội dung gốc phản ánh trải nghiệm của người dân về quản trị và hành chính công |
Rất cao (đo lường cấp tỉnh từ 2011 trên 63 tỉnh/thành; tương đồng với các cấu phần thể chế quốc tế) |
Chỉ số PAPI được luận án lựa chọn làm thước đo thể chế chính thức gồm 6 trục nội dung gốc:
- Tham gia của người dân ở cấp cơ sở.
- Công khai, minh bạch trong việc ra quyết định.
- Trách nhiệm giải trình với người dân.
- Kiểm soát tham nhũng trong khu vực công.
- Thủ tục hành chính công.
- Cung ứng dịch vụ công.
Điểm số mỗi trục nội dung được chuẩn hóa từ 1 đến 10, điểm tổng hợp PAPI dao động từ 6 đến 60 điểm.
Về kênh truyền dẫn, thể chế tác động đến nghèo đa chiều qua hai kênh: kênh gián tiếp (thể chế tác động đến tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập, sau đó tác động đến giảm nghèo) và kênh trực tiếp. Luận án đi sâu vào kênh trực tiếp thông qua 4 cơ chế thể chế chính thức:
- Sự tham gia của cộng đồng và người nghèo: Thúc đẩy sự tham gia trong lập kế hoạch và giám sát chính sách (Fowler, 1997; Sen, 2001; Narayan và cộng sự, 2000; minh chứng từ thẻ điểm công dân tại Bangalore theo Paul, 1997 và phong trào Saemaul Undong tại Hàn Quốc).
- Hệ thống khung pháp lý và an ninh trật tự: Bảo đảm quyền tài sản, quyền sử dụng đất trong cải cách ruộng đất, bảo vệ nhóm yếu thế chống phân biệt đối xử và bảo vệ trật tự trị an (Shaffer, 2008; Anderson, 1999; Di Gregorio và cộng sự, 2008).
- Cải cách hành chính công: Giảm phiền hà, tinh giản thủ tục, phân bổ nguồn lực công hiệu quả và nâng cao trách nhiệm giải trình (ADB, 2002).
- Kiểm soát tham nhũng trong khu vực công: Giảm gánh nặng tham nhũng vặt đối với dịch vụ y tế, giáo dục cơ bản và ngăn chặn thất thoát đầu tư công dành cho người nghèo (WB, 2000/01; Eric C. và cộng sự, 2003).
Phương pháp nghiên cứu kết hợp tiếp cận định tính và định lượng qua quy trình 5 bước:
- Bước 1: Tổng quan tài liệu xác định khoảng trống nghiên cứu.
- Bước 2: Hoàn thiện cơ sở lý luận và tham vấn ý kiến chuyên gia về kênh truyền dẫn, tiêu chí đo lường thể chế và các nhân tố ảnh hưởng.
- Bước 3: Thu thập số liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp/thô tại 63 tỉnh, thành phố.
- Bước 4: Phân tích thực trạng và ước lượng mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của PAPI tổng hợp và 6 chỉ số thành phần đến nghèo đa chiều, kiểm tra sự khác biệt giữa các vùng và nhóm trình độ phát triển.
- Bước 5: Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp chính sách.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về ba chủ đề: nghèo đa chiều, thể chế và tác động của thể chế đến nghèo khổ. Tác giả phân tích tiến trình phát triển của các thước đo nghèo từ đơn chiều thu nhập sang đa chiều (HPI, MPI và phương pháp Alkire - Foster), đồng thời tổng hợp các chỉ số đo lường thể chế quốc tế (WDR97, KKZ, ICRG, GCR). Chương này chỉ rõ các mâu thuẫn trong kết quả thực nghiệm quốc tế về chiều hướng tác động của thể chế, đồng thời nhấn mạnh sự thiếu hụt các nghiên cứu cấp tỉnh tại Việt Nam xem xét nghèo đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, làm cơ sở xác lập 4 khoảng trống nghiên cứu cho luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của thể chế đến nghèo đa chiều
Chương 2 làm rõ nội hàm khái niệm nghèo đa chiều và thể chế. Tác giả phân tích mô hình thể chế kinh tế và thể chế chính trị dung hợp của Acemoglu và Robinson (2013), đối chiếu các thước đo thể chế quốc tế và trong nước (PCI, PAR INDEX, SIPAS, PAPI), qua đó luận chứng việc lựa chọn 6 trục nội dung gốc của PAPI cấp tỉnh. Chương này phát triển khung phân tích về hai kênh truyền dẫn (trực tiếp và gián tiếp), tập trung phân tích 4 cơ chế tác động trực tiếp của thể chế chính thức gồm: sự tham gia của người dân ở cơ sở, khung pháp lý bảo vệ quyền tài sản và an ninh xã hội, cải cách hành chính công, và kiểm soát tham nhũng trong khu vực công.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 thiết lập quy trình nghiên cứu thực nghiệm 5 bước, xây dựng phương pháp tiếp cận kết hợp định tính (phân tích văn bản, tham vấn chuyên gia) và định lượng. Tác giả xây dựng mô hình kinh tế lượng với biến phụ thuộc là tỷ lệ nghèo đa chiều cấp tỉnh, các biến độc lập chính gồm điểm PAPI tổng hợp và điểm số 6 trục nội dung thành phần của PAPI, cùng các biến kiểm soát phản ánh đặc trưng kinh tế - xã hội của tỉnh. Mẫu nghiên cứu bao quát 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn 2016–2018.
Chương 4: Thực trạng tác động của thể chế đến nghèo đa chiều ở Việt Nam
Chương 4 trình bày thực trạng diễn biến chỉ số PAPI và tỷ lệ nghèo đa chiều cấp tỉnh tại Việt Nam trong giai đoạn 2016–2018. Kết quả ước lượng mô hình thực nghiệm cung cấp các bằng chứng định lượng cụ thể:
- Thể chế có tác động tới giảm nghèo đa chiều nhưng mức độ tác động không đồng nhất giữa các địa phương và các vùng kinh tế.
- Xuất hiện hiện tượng tác động "ngược": Tại các khu vực thành thị và các địa phương có mức thu nhập cao, điểm số thể chế tổng hợp lại có tác động ngược chiều tới mục tiêu giảm nghèo đa chiều.
- Khi phân tích từng khía cạnh cụ thể, hai trục nội dung là công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình ghi nhận hệ số tác động "ngược" đối với nỗ lực giảm nghèo đa chiều tại các địa phương trong mẫu quan sát.
Chương 5: Giải pháp tăng cường tác động của thể chế đến nghèo đa chiều ở Việt Nam
Chương 5 xây dựng hệ thống quan điểm, định hướng và giải pháp chính sách cho giai đoạn 2021–2030 dựa trên kết quả phát hiện tại Chương 4:
- Thực hiện cải cách thể chế toàn diện gắn kết chặt chẽ với mục tiêu giảm nghèo bền vững, có tính toán đến yếu tố đặc thù và trình độ phát triển của từng địa phương.
- Thay đổi căn bản diện bao phủ chính sách: Không chỉ tập trung nguồn lực can thiệp vào các vùng "lõi nghèo" (vùng sâu, vùng xa, khu vực nông thôn khó khăn), mà phải thiết kế chính sách giảm nghèo đa chiều chuyên biệt cho các địa phương không thuộc diện khó khăn và khu vực đô thị, nơi đòi hỏi các cơ chế thể chế đặc thù để xử lý các chiều thiếu hụt phi thu nhập.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
Về mặt học thuật và lý luận:
- Luận án nghiên cứu tác động của thể chế đến nghèo đa chiều thay vì cách tiếp cận đơn chiều theo thu nhập của các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, tiếp cận chuẩn mực quốc tế và đóng góp cơ sở lý luận phục vụ Chiến lược giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2021–2030.
- Luận án sử dụng chỉ số PAPI như thước đo thành quả vận hành tổng thể của thể chế cấp địa phương, tạo sự khác biệt so với các công trình trước đây vốn chỉ phân tích riêng lẻ từng yếu tố cấu thành thể chế (người chơi, cách chơi, luật chơi).
- Luận án xây dựng mô hình phân tích định lượng sử dụng các chỉ số thành phần của PAPI làm biến giải thích, cho phép lượng hóa cụ thể tác động của từng khía cạnh thể chế chính thức tới nghèo đa chiều.
Về mặt thực tiễn và phát hiện thực nghiệm:
4. Luận án phát hiện ba kết quả thực nghiệm mới:
- Tác động của thể chế đến nghèo đa chiều có sự phân hóa rõ nét giữa các địa phương khác nhau.
- Thể chế có tác động "ngược" đến giảm nghèo đa chiều tại khu vực thành thị và các địa phương có mức thu nhập cao.
- Hai khía cạnh thể chế cụ thể gồm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình có tác động "ngược" đến giảm nghèo đa chiều trong mô hình thực nghiệm.
- Luận án đề xuất hai nhóm giải pháp mới về chính sách:
- Đẩy mạnh cải cách thể chế toàn diện gắn với giảm nghèo bền vững, thiết kế giải pháp thích ứng với tính đặc thù của từng địa phương.
- Mở rộng diện chính sách giảm nghèo đa chiều, không chỉ tập trung vào vùng "lõi nghèo" (vùng khó khăn, nông thôn) mà cần bổ sung chính sách và cơ chế thể chế đặc thù cho các địa phương phát triển và khu vực đô thị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ một số giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn chuỗi số liệu nghèo đa chiều: Dữ liệu thực nghiệm phân tích tác động giới hạn trong giai đoạn 2016–2018 do chuẩn nghèo đa chiều mới được áp dụng tại Việt Nam theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg từ năm 2016.
- Phạm vi thể chế: Luận án chỉ giới hạn khảo sát thể chế chính thức thông qua 6 trục nội dung gốc của PAPI, chưa bao quát định lượng thể chế phi chính thức (vốn xã hội, tập quán cộng đồng) và chưa tích hợp 2 trục nội dung mới bổ sung từ năm 2018 (quản trị môi trường và quản trị điện tử).
- Kênh truyền dẫn: Nghiên cứu lượng hóa tập trung vào kênh tác động trực tiếp, chưa xây dựng mô hình kinh tế lượng tích hợp để lượng hóa đồng thời kênh tác động gián tiếp thông qua tăng trưởng và phân phối thu nhập.
Các hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở gồm: mở rộng chuỗi dữ liệu nghèo đa chiều sang giai đoạn sau năm 2020; lượng hóa đồng thời cả kênh trực tiếp và kênh gián tiếp trong mô hình cấu trúc; và đưa thêm các biến số đại diện cho thể chế phi chính thức cùng các chỉ số quản trị mới vào mô hình phân tích cấp tỉnh.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo khoa học và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế và Kinh tế học thể chế: Tài liệu cung cấp bức tranh tổng quan tài liệu trong nước và quốc tế về đo lường thể chế và nghèo đa chiều, cùng khung lý thuyết chi tiết về 4 cơ chế truyền dẫn trực tiếp từ thể chế đến nghèo đa chiều.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban nhân dân và các Sở chuyên môn cấp tỉnh): Các phát hiện thực nghiệm về tác động "ngược" của thể chế tại khu vực đô thị và nhóm tỉnh thu nhập cao, cùng hệ số của tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, là căn cứ thực nghiệm quan trọng để điều chỉnh thiết kế can thiệp chính sách giảm nghèo, tránh việc áp dụng đồng nhất một khung chính sách giảm nghèo chung cho mọi địa bàn.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án lựa chọn chỉ số PAPI thay vì PCI, PAR INDEX hay SIPAS để đại diện cho thể chế chính thức tại Việt Nam?
Luận án lựa chọn PAPI vì chỉ số này đo lường cảm nhận và trải nghiệm thực tế của người dân về quản trị và hành chính công cấp tỉnh từ năm 2011 trên 63 tỉnh/thành phố, có nội dung tương đồng với các cấu phần thể chế quốc tế (trách nhiệm giải trình, minh bạch, kiểm soát tham nhũng, dịch vụ công). Trong khi đó, PCI phản ánh tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp; PAR INDEX và SIPAS chỉ tập trung vào cải cách hành chính công và sự hài lòng dịch vụ hành chính, đồng thời SIPAS mới được triển khai từ năm 2017 nên không đáp ứng tính liên tục của dữ liệu nghiên cứu.
2. Chuẩn nghèo đa chiều áp dụng trong luận án được căn cứ vào văn bản pháp lý nào và bao gồm những chiều cạnh nào?
Chuẩn nghèo đa chiều trong luận án được xác định căn cứ theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 19 tháng 11 năm 2015 áp dụng cho giai đoạn 2016–2020. Chuẩn nghèo này bao gồm tiêu chí thu nhập kết hợp mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin), cụ thể hóa qua 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt.
3. Luận án phát hiện những kết quả thực nghiệm mới nào về tác động của thể chế đến nghèo đa chiều?
Luận án phát hiện tác động của thể chế đến nghèo đa chiều không đồng nhất giữa các địa phương; thể chế có tác động "ngược" đến giảm nghèo đa chiều ở khu vực thành thị và các địa phương có mức thu nhập cao; đồng thời hai khía cạnh thể chế cụ thể là công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình cũng ghi nhận tác động "ngược" đến giảm nghèo đa chiều.
4. Khung phân tích của luận án xác định thể chế tác động đến nghèo đa chiều qua những kênh truyền dẫn nào?
Luận án xác định hai kênh truyền dẫn: kênh gián tiếp (thể chế tác động qua biến số trung gian là tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập, sau đó ảnh hưởng đến nghèo) và kênh trực tiếp. Luận án tập trung nghiên cứu kênh trực tiếp thông qua 4 cơ chế thể chế chính thức gồm: sự tham gia của người dân ở cơ sở; hệ thống khung pháp lý và an ninh trật tự; cải cách hành chính công; và kiểm soát tham nhũng trong khu vực công.
5. Vì sao phạm vi thời gian nghiên cứu thực nghiệm tác động của luận án lại tập trung vào giai đoạn 2016–2018?
Phạm vi thời gian thực nghiệm tập trung vào giai đoạn 2016–2018 do chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều tại Việt Nam mới chính thức được ban hành và áp dụng từ năm 2016 theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, khiến nguồn dữ liệu phản ánh nghèo đa chiều cấp tỉnh có độ dài chuỗi thời gian giới hạn tại thời điểm thực hiện luận án.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Tác động của thể chế đến nghèo đa chiều ở Việt Nam" đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa thể chế chính thức và nghèo đa chiều, xây dựng khung phân tích kênh truyền dẫn trực tiếp và kiểm định thực nghiệm trên dữ liệu cấp tỉnh giai đoạn 2016–2018. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự phân hóa về tác động của thể chế giữa các vùng, đồng thời phát hiện hiện tượng tác động "ngược" của thể chế tại khu vực đô thị, các địa phương thu nhập cao và đối với các khía cạnh minh bạch, trách nhiệm giải trình. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các định hướng và giải pháp cải cách thể chế gắn với đặc thù địa phương, mở rộng chính sách giảm nghèo đa chiều sang khu vực đô thị và các địa bàn ngoài vùng "lõi nghèo" truyền thống trong giai đoạn phát triển tiếp theo.