CHƯƠNG 1: CHỦ THỂ TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI TÌNH YÊU CỦA PHẠM THỊ HOÀI, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, PHAN THỊ VÀNG ANH 1. Chủ thể trần thuật và các hình thức xuất hiện chủ thể trần thuật trong tác phẩm tự sự Văn học là nhân học. Mỗi tác phẩm văn chương là mỗi mảnh đời ghép lại của bức tranh hiện thực đời sống xã hội muôn màu. Có những tác phẩm phê phán, tố cáo bản chất của một chế độ xã hội, một tầng lớp giai cấp.
Có những tác phẩm là tiếng nói bênh vực cho người sức yếu thế cô, luôn bị áp bức và chà đạp. Có những tác phẩm là sự đồng cảm sâu sắc về kiếp người nhỏ bé trong xã hội, tạo nhiều xúc cảm trong lòng người đọc. Văn học nghệ thuật là loại hình nghệ thuật được sáng tạo để thỏa mãn nhu cầu giải trí của con người, không chỉ thế, văn học còn là mảnh đất gieo mầm yêu thương, là chiếc cầu nối tình cảm giúp người gần người hơn, là nơi con người gặp gỡ nhau trong sự giao hòa cảm xúc. Vì vậy, chức năng của văn học không chỉ là chức năng thông tin mà tác phẩm còn có khả năng kích thích người đọc đồng sáng tạo.
Mối quan hệ giữa tác giả - tác phẩm – người đọc là mối quan hệ khắng khít, gắn bó hữu cơ. Vấn đề tiếp nhận văn học hôm nay hay việc khảo sát hai nhân tố tác giả - người đọc trong đời sống văn học đã được các nhà lý luận phương Tây chú ý quan tâm nhiều từ khoảng thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX. Để xác lập giá trị của tác phẩm tự sự, nguyên tắc khách quan được xem là nguyên tắc đặc thù trong việc tái hiện và chiếm lĩnh hiện thực. Trong cấu trúc văn bản tự sự, phương diện chủ thể trần thuật là yếu tố giữ vai trò trung tâm.
Phương diện này mãi đến khi ngành nghiên cứu tự sự học ra đời mới được giới nghiên cứu chú trọng và xác lập lý thuyết một cách có hệ thống và toàn diện. Khái niệm chủ thể trần thuật trong tác phẩm tự sự Chủ thể trần thuật là một thuật ngữ phổ biến trong tác phẩm tự sự, ngoài ra nó còn được gọi bằng những thuật ngữ tương đương như: chủ thể kể chuyện, người kể chuyện, người trần thuật… Chủ thể trần thuật là nhân vật trong tác phẩm, là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, thông qua nhân vật này, nhà văn bộc lộ quan điểm nghệ thuật của mình. Trong Từ điển thuật ngữ văn học, có định nghĩa: Người trần thuật là một nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành (…) nó bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong tác phẩm tự sự. [26; tr 221] 16 Chúng ta cần phân biệt giữa chủ thể trần thuật và bản thân tác giả.
Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà viết: Người kể chuyện là thuật ngữ chỉ nhân vật đóng vai trò chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm văn học [83; tr 89], nhà nghiên cứu nhấn mạnh: Người kể chuyện và tác giả không phải là một. Không nên đồng nhất người kể chuyện với tác giả, ngay cả khi tác giả xưng “tôi” đứng ra trần thuật câu chuyện và hoàn toàn đứng ngoài sự vận động của các sự kiện, các tình tiết [83; tr 89]. Như vậy, chủ thể trần thuật hay người kể chuyện hoàn toàn là nhân vật do nhà văn hư cấu. Đôi khi tác giả hòa nhập vào chủ thể trần thuật để kể chuyện, lúc này cũng không thể xem chủ thể trần thuật và nhà văn là một, chủ thể trần thuật chỉ là hình tượng sáng tạo của chính tác giả, tuyệt nhiên không là bản thân tác giả ngoài đời.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, có viết: Người kể chuyện là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm. Đó có thể là hình tượng của chính tác giả, dĩ nhiên không nên đồng nhất với tác giả ngoài đời, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra, có thể là một người biết câu chuyện nào đó. Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện. Todorov chỉ rõ ý nghĩa của chủ thể trần thuật trong tác phẩm tự sự: Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng (…) không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện.
Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện. Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân vật nhân danh cuốn sách được kể có vị trí hoàn toàn đặc biệt. Chủ thể trần thuật được Huỳnh Như Phương diễn đạt với hình thức “hình tượng tác giả”: Khái niệm hình tượng tác giả nói lên bản chất của tác phẩm nghệ thuật và là nơi tập trung sự thống nhất về tư tưởng, kết cấu, hình tượng và ngôn từ của tác phẩm. [27; tr 215] Chủ thể trần thuật là nhân vật không chỉ đại diện tác giả gián tiếp hoặc trực tiếp bộc bạch quan điểm nghệ thuật, là tiếng nói của cái “tôi” tác giả mà còn chi phối các yếu tố khác trong cấu trúc tác phẩm tự sự như: điểm nhìn (hướng nội, hướng ngoại), ngôi kể, kết cấu tác phẩm.
Nói chung, chủ thể trần thuật tạo lực hút và có sức ảnh hưởng đến cả nội dung và nghệ thuật tác phẩm. Huỳnh Như Phương khẳng định: Khái niệm hình tượng tác giả (…), là một phạm trù thi pháp cao nhất quy định đặc điểm và nội dung của cấu trúc tác phẩm, cả tính khuynh hướng và sự phát triển của tác phẩm đó. [27; tr 215] 17 Chủ thể trần thuật có thể đóng vai người quan sát, ngoài lề thuật lại câu chuyện hoặc tham gia vào câu chuyện với tư cách là một nhân vật – người kể chuyện, có khi lộ diện, có khi ẩn mình đằng sau sân khấu. Vì vậy, người kể chuyện thay mặt nhà văn tổ chức kết cấu tác phẩm.
Chủ thể trần thuật có thể tổ chức các quan hệ nhân vật theo hình thức đối lập, đối chiếu, tương phản… và tổ chức sự kiện, liên kết chúng tạo thành truyện (với các dạng cốt truyện khác nhau: cốt truyện tuyến tính, cốt truyện tâm lí, cốt truyện “truyện lồng truyện”… Timofeev nhấn mạnh vai trò của chủ thể trần thuật hết sức to lớn. Cách đánh giá các nhân vật và các biến cố đều xuất phát từ cá nhân người kể chuyện. Do đó, vấn đề tiếp nhận văn học có thành công hay thất bại đều qui về mối quan hệ giữa tác giả - tác phẩm – người đọc, trong đó, chủ thể trần thuật được xem là yếu tố trung gian gắn kết ba nhân tố trên. Nếu không có chủ thể trần thuật, tác phẩm chỉ dừng lại ở mức độ bình thường, thô ráp.
Câu chuyện có đủ sức thuyết phục, lôi cuốn và hấp dẫn người đọc là nhờ vào chủ thể trần thuật, bởi nó là nhân vật đặc biệt về vai trò, ý nghĩa do nhà văn hư cấu nên. Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học chỉ rõ: Trần thuật tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi kể được gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích những gì đã xảy ra. [6; tr 360] Ngoài thái độ chủ quan được thừa hưởng của tác giả, chủ thể trần thuật mang trong mình cả phần nội dung khách quan của thế giới được phản ảnh vào tác phẩm; phần nội dung đó thường thể hiện một loại hình thái độ phản ứng với thực tại điển hình cho thời đại của nhà văn được nhà văn tái hiện và miêu tả lại trong tác phẩm của mình. Một mặt chủ thể trần thuật kéo người đọc đến gần hơn với những quan điểm của tác giả về hiện thực, về nhân sinh, một mặt có khi chủ thể trần thuật còn đối thoại, tranh luận với người đọc để cùng nhau khám phá chân lí và chiếm lĩnh cuộc sống.
Chủ thể trần thuật lúc này không còn là người kể chuyện toàn tri và trở nên bình đẳng với nhân vật, người đọc của mình. Chủ thể trần thuật là công cụ giúp nhà văn thực hiện ý đồ nghệ thuật của mình nhưng chủ thể trần thuật có đời sống riêng của nó. Nhà văn chỉ qui định, lựa chọn các hình thức xuất hiện của chủ thể trần thuật sao cho tác phẩm trở nên khách quan, có sức thuyết phục cao, tranh thủ sự đồng tình cùng người đọc, còn chủ thể trần thuật sẽ vận động theo đúng với đặc điểm, tính chất của bản thân nó từ lời văn đến giọng điệu trần thuật. Tác giả thực sự xuất hiện chỉ như người ghi, người sao lục lời kể, hoặc là người nghe trộm người kể.
18 Người trần thuật là kẻ sáng tạo ra để mang lời kể. Và hành vi trần thuật là hành vi của người trần thuật đó mà sản phẩm là văn bản tự sự, lúc này tác giả không bao giờ hiện diện trong tác phẩm như một người kể, người phát ngôn (…) [50; tr 7] 1. Các hình thức xuất hiện của chủ thể trần thuật trong tác phẩm tự sự Để thực hiện hành vi kể chuyện, chủ thể trần thuật được tác giả đặt cách xuất hiện sao cho phù hợp với đặc thù, tính chất của câu chuyện được kể. Trong tác phẩm tự sự, chủ thể trần thuật có thể được kể ở ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai.
Nhờ thay đổi các chủ thể kể chuyện khác nhau, nhà văn tạo điều kiện cho cách nhìn nhiều chiều về nhân vật, sự kiện, giảm bớt sự phụ thuộc vào quan điểm của tác giả, tăng cường khả năng nghiền ngẫm của người đọc, đồng thời tránh được lối kể đơn điệu theo một giọng từ đầu đến cuối tác phẩm. Sự phân biệt về ngôi kể bao giờ cũng có ý nghĩa nghệ thuật, bởi vì mỗi ngôi kể có một trường nhìn khác nhau được qui ước, đem lại những cái nhìn khác nhau. Chủ thể trần thuật ngôi thứ ba với phương thức trần thuật khách quan – chủ quan hóa Chủ thể kể chuyện ở ngôi thứ ba vô nhân xưng là ngôi kể tự do nhất, cho phép người kể có thể kể tất cả những gì có ở trên đời, có thể len lỏi vào từng ngõ ngách, góc khuất trong suy nghĩ của con người để bình luận, nhận xét hoặc kể về những chuyến chu du miền đất lạ mà không bị giới hạn tầm nhìn và về nguyên tắc, người kể không thể biết.