mở đầu cho phong trào nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm và sử dụng trắc nghiệm làm công cụ khảo sát tâm lý. Ở Mỹ: Năm 1890 nhà tâm lý học Hoa Kỳ Mac K. Cattell đưa ra khái niệm trắc nghiệm trí tuệ trong tác phẩm “Trắc nghiệm trí tuệ và đo lường”, từ đó trắc nghiệm được hiểu theo nghĩa rộng là dụng cụ, phương tiện, đo lường trong tâm lý. Trắc nghiệm phát triển mạnh mẽ với nhiều trường phái tâm lý học [6].
Bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Acheevenment Test ra đời vào năm 1923 tại Mỹ. Với việc đưa vào chấm trắc nghiệm bằng máy IBM năm 1935, việc thành lập Hội đồng quốc gia về Đo lường trong giáo dục vào thập niên 1950, sự ra đời hai tổ chức tư nhân Eduacation Testing Services năm 1947 và American College Testing năm 1959, hai tổ chức làm dịch vụ trắc nghiệm lớn thứ nhất và thứ nhì Hoa Kỳ, một ngành công nghiệp về trắc nghiệm đã hình thành [11]. Sau các loại trắc nghiệm trí thông minh, kỹ xảo, các trắc nghiệm về khả năng, sở thích, nhân cách,… đã không ngừng được phát triển và áp dụng một cách rộng rãi trong nhiều năm qua. Ở Mỹ, từ đầu thế kỷ XIX, người ta đã dùng phương pháp trắc nghiệm chủ yếu để phát hiện năng khiếu, xu hướng nghề nghiệp của học sinh.
16 Luan van Đến năm 1940, ở Hoa Kỳ đã xuất hiện nhiều hệ thống trắc nghiệm dùng để đánh giá thành tích học tập của học sinh. Năm 1961, Hoa Kỳ đã có hơn 2000 chương trình trắc nghiệm chuẩn [7]. Ở Pháp: Sang đầu thế kỷ XX, trắc nghiệm phát triển mạnh mẽ với nhiều công trình nghiên cứu. Đặc biệt năm 1905 Binet và Simon (Pháp) phát minh loại trắc nghiệm trí thông minh trẻ em [18].
Ở Liên Xô: Trong những năm 1926 – 1931, trắc nghiệm thành tích học tập đã được sử dụng ở một số trường. Một vài tài liệu trắc nghiệm được xuất bản, đặc biệt là tác phẩm trắc nghiệm (lý thuyết và thực hành) gồm 2 tập (1928) tập trung một số bài viết giới thiệu cả ưu nhược điểm của trắc nghiệm. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Viện Hàn lâm khoa học giáo dục Liên Xô chính thức nghiên cứu khả năng và tác dụng của trắc nghiệm [7]. Trắc nghiệm tiêu chí Theo Hambleton R.K, đến đầu thập niên 1990, đã có trên 700 bài viết về vấn đề này và có ít nhất 57 định nghĩa khác nhau về trắc nghiệm tiêu chí.
Tại Việt Nam Trắc nghiệm chuẩn mực Ở Việt Nam, trắc nghiệm ra đời muộn hơn so với các nước trên thế giới. Từ đầu thập niên 1950, trắc nghiệm cũng đã được đề cập đến. Kiến thức về trắc nghiệm được thu thập qua các tài liệu giáo dục học và tâm lý học chủ yếu của Liên Xô. Ở Miền Nam: Ở nước ta, loại trắc nghiệm chuẩn mực thường được gọi là trắc nghiệm khách quan và chính thức được nghiên cứu áp dụng tại một số trường Trung học và Đại học ở Miền Nam vào những năm đầu của thập niên 1960.
Năm 1964, “Trung tâm Trắc nghiệm và Hướng dẫn” (một cơ quan đặc trách về trắc nghiệm) được thành lập. Cơ quan này phổ biến nhiều tài liệu về trắc nghiệm [7]. Niên học 1965 – 1966, kỳ thi trung học đệ nhất các môn Sử, Địa, Công dân thi dưới hình thức trắc nghiệm [13]. Năm học 1973 – 1974, tất cả các môn học trong kỳ thi tú tài đều thi trắc nghiệm (dạng nhiều lựa chọn) [11].
Từ đầu năm 1994 khi Bộ Giáo dục và Đào tạo có những hoạt động cụ thể như tập huấn về trắc nghiệm, khuyến khích sử dụng phương pháp trắc nghiệm thì tại trường Đại 17 Luan van học Đà Lạt, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh,… đã sử dụng trắc nghiệm thành tích học tập trong các môn thi, kiểm tra. Đầu năm 1996, trắc nghiệm được sử dụng vào kỳ thi tuyển sinh ở trường Đại học Đà Lạt dưới hai hình thức trắc nghiệm luận đề và trắc nghiệm khách quan [1]. Ngày 31/05/1997, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã có buổi tập huấn về trắc nghiệm và khuyến khích toàn bộ giáo viên sử dụng vào việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở một số môn học. Ở Miền Bắc: Trần Bá Hoành là một trong những người tiên phong nghiên cứu trắc nghiệm khách quan từ đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX.
Năm 1971, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục có bài giới thiệu về trắc nghiệm. Từ năm học 1975 đến 1993, hình thức trắc nghiệm được áp dụng trong thi kiểm tra thành tích học tập của học sinh nhưng không phổ biến rộng rãi, thường chỉ được áp dụng cho môn Ngoại ngữ. Cho đến nay, trắc nghiệm đã được giới thiệu và áp dụng rộng rãi trong các trường đại học, ở các trường phổ thông và trong các kì thi tuyển sinh. Ngoài ra còn có một số tác phẩm - tác giả nghiên cứu về trắc nghiệm thành tích học tập: - Viết và phân tích trắc nghiệm giáo dục - tác giả Huỳnh Huynh - Trắc nghiệm và đo lường thành tích học tập - tác giả Dương Thiệu Tống - Trắc nghiệm - tác giả Châu Kim Lang.
- Trắc nghiệm và ứng dụng - tác giả Lâm Quang Thiệp. Trắc nghiệm tiêu chí Loại trắc nghiệm này cũng đã được đề cập đến từ năm 1972. Tuy nhiên cho đến hiện nay, trắc nghiệm tiêu chí hầu như vẫn chưa được các giáo viên quan tâm áp dụng. Năm 1998, Nhà xuất bản Giáo dục đã cho ra mắt cuốn tài liệu “Trắc nghiệm tiêu chí” – Phương pháp thực hành của Dương Thiệu Tống.
Đây là cuốn tài liệu đầu tiên viết về loại trắc nghiệm này được biên soạn bằng tiếng Việt. Một số khái niệm cơ bản Trắc nghiệm: là một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời cho câu hỏi “Thành tích của cá nhân như thế nào, so sánh với những người khác hay so với một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập được dự kiến”. Trắc 18 Luan van nghiệm theo tiếng Anh là “thử”, “phép thử”, “sát hạch”. Theo nghĩa chữ Hán, tác giả Dương Thiệu Tống đã giải thích: “trắc” có nghĩa là “đo lường”, “nghiệm” là “suy xét, chứng thực” [1].
Có khá nhiều định nghĩa về trắc nghiệm của các nhà Tâm lý học và Giáo dục học. Trắc nghiệm là một trong những phương pháp, công cụ đo lường trong giáo dục đã, đang và sẽ được các nhà giáo dục – đào tạo trên thế giới cũng như ở Việt Nam phát triển [8]. Trong Giáo trình “Đánh giá và đo lường kết quả học tập”, tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã trích dẫn định nghĩa của Gronlund: “Trắc nghiệm là một công cụ hay một quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ mà cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể”. Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu “trắc nghiệm” là một công cụ được sử dụng để đo lường thành tích đạt được của cá nhân trong một lĩnh vực học tập cụ thể nào đó.
Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá kết quả học tập hay năng lực của học sinh sau một khóa học, môn học hoặc một thời gian học,… Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Gọi là khách quan vì cách cho điểm (đánh giá) hoàn toàn không phụ thuộc vào người chấm. Trắc nghiệm khách quan được biểu đạt bằng hệ thống các câu hỏi. Người trả lời chọn một câu trả lời đúng nhất trong số các câu trả lời cho một câu hỏi.
Người chấm căn cứ vào hệ thống cho điểm khách quan để đánh giá, không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm. Tại các trường Đại học, bộ phận Khảo thí luôn có sẵn một hệ thống ngân hàng câu hỏi để sử dụng trong các kỳ thi, kỳ kiểm tra đánh chất lượng của học sinh sinh viên. Tuy nhiên, để xây dựng một hệ thống ngân hàng câu hỏi hoàn chỉnh, chúng ta cẩn hiểu rõ bản chất và các yếu tố cấu thành của chúng. Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng câu hỏi, phản ánh sự phát triển của khoa học trắc nghiệm.
Theo Ward và cộng sự ngân hàng câu hỏi là tập hợp những câu hỏi dưới dạng văn bản có thể dễ dàng truy cập để sử dụng khi xây dựng đề thi [17]. Theo McCallon và cộng sự, định nghĩa về ngân hàng câu hỏi là tập hợp những câu hỏi dưới dạng văn bản có thể dễ dàng truy cập để sử dụng khi xây dựng đề thi, thường được tin học hóa để dễ dàng lưu giữ và thuận tiện khi tạo ra các đề thi mới. Mỗi câu hỏi được mã hóa theo từng lĩnh vực nội dung và mục tiêu giảng dạy, cũng như những dữ liệu 19 Luan van được thu thập qua thực nghiệm như những số đo về độ khó và độ phân cách của từng câu hỏi [3]. Nghiên cứu của Lâm Quang Thiệp thì ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được hiểu là tập hợp các câu hỏi trắc nghiệm với số lượng tương đối lớn, trong đó mỗi câu hỏi đã được định cỡ, tức là được gắn với các phần nội dung xác định và tham số xác định (độ khó, độ phân biệt) [2].
Như vậy xây dựng ngân hàng câu hỏi là tập hợp các câu hỏi trắc nghiệm với số lượng tương đối lớn, trong đó mỗi câu hỏi đã được định cỡ, tức là được gắn với các phần nội dung xác định và tham số xác định (độ khó, độ phân biệt) nhằm kiểm tra đánh giá kiến thức và kỹ năng cần có để thực hiện các công việc của một ngành hoặc một nghề. Trắc nghiệm khách quan là một phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 1. Chức năng của kiểm tra đánh giá Chức năng so sánh: so sánh giữa mục đích yêu cầu đề ra với kết quả thực hiện được. Nếu không có kiểm tra đánh giá thì không có dữ kiện, số liệu xác thực để so sánh kết quả đạt được với mục đích yêu cầu.
Chức năng phát hiện lệch lạc: việc kiểm tra sẽ phát hiện ra những mặt đã đạt được và chưa đạt được mà môn học đề ra đối với học sinh, qua đó tìm được những khó khăn và trở ngại trong quá trình học tập. Qua đó tìm được những nguyên nhân lệch lạc về phía người dạy cũng như người học, đề ra được những phương án giải quyết. Chức năng điều chỉnh: qua kiểm tra giáo viên tìm được những điều chỉnh cần thiết trong quá trình giảng dạy sao cho thích hợp để loại trừ những lệch lạc, tháo gỡ những khó khăn, trở ngại, thúc đẩy quá trình chiếm lĩnh tri thức của người học [12].