Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Chƣơng 2: Thực trạng năng lực thực thi công vụ của chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện Hƣớng Hóa, tỉnh Quảng Trị Chƣơng 3: Mục tiêu, phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện Hƣớng Hóa, tỉnh Quảng Trị 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Năng lực Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Theo cách hiểu thông thƣờng, năng lực là sự kết hợp của tƣ duy, kỹ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi đƣợc của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ [40].
Mức độ và chất lƣợng hoàn thành công việc sẽ phản ứng mức độ năng lực của ngƣời đó. Chính vì thế, thuật ngữ “năng lực” khó mà định nghĩa đƣợc một cách chính xác. Năng lực hay khả năng, kỹ năng trong tiếng Việt có thể xem tƣơng đƣơng với các thuật ngữ “competence”, “ability”, “capability”, … trong tiếng Anh. Do các nhiệm vụ cần phải giải quyết trong cuộc sống cũng nhƣ công việc và học tập hàng ngày là các nhiệm vụ đòi hỏi phải có sự kết hợp của các thành tố phức hợp về tƣ duy, cảm xúc, thái độ, kỹ năng vì thế có thể nói năng lực của một cá nhân là hệ thống các khả năng và sự thành thạo giúp cho ngƣời đó hoàn thành một công việc hay yêu cầu trong những tình huống học tập, công việc hoặc cuộc sống, hay nói một cách khác năng lực là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và sự đam mê để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” [41].
Trong một báo cáo của Trung tâm nghiên cứu châu Âu về việc làm và lao động năm 2005, các tác giả đã phân tích rõ mối liên quan giữa các khái niệm năng lực, kỹ năng và kiến thức. Báo cáo này đã tổng hợp các định nghĩa 10 chính về năng lực trong đó nêu rõ năng lực là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó. Cùng với khái niệm năng lực là khái niệm “năng lực cốt lõi” bao gồm một số năng lực đƣợc coi là nền tảng. Dựa trên những năng lực cốt lõi này, ngƣời học có thể thực hiện đƣợc yêu cầu của học tập cũng nhƣ các yêu cầu khác trong các bối cảnh và tình huống khác nhau khi đạt đƣợc những năng lực thứ cấp.
Theo định nghĩa của các nƣớc có nền kinh tế phát triển (OECD), năng lực cốt lõi bao gồm: những năng lực nền tảng nhƣ năng lực đọc hiểu, năng lực tính toán, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp… Do vậy, năng lực có tính phức hợp hơn kỹ năng và mức độ thành thạo của một kỹ năng cũng quyết định một phần tới mức độ cao thấp của năng lực. Đi sâu vào ngành hoặc chuyên ngành cụ thể khái niệm năng lực lại đƣợc định nghĩa ở phạm vi hẹp hơn phù hợp với đặc thù của từng ngành/chuyên ngành. Ở Việt Nam, khái niệm năng lực cũng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng nhƣ công luận khi giáo dục đang thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện, chuyển từ giáo dục kiến thức sang giáo dục năng lực. Khái niệm này cũng đƣợc định nghĩa khá tƣơng đồng với các định nghĩa mà các nhà nghiên cứu trên thế giới đƣa ra.
Chẳng hạn, các nhà tâm lý học cho rằng năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Ngƣời ta cũng chia năng lực thành năng lực chung, cốt lõi và năng lực chuyên môn, trong đó, năng lực chung, cốt lõi là năng lực cơ bản cần thiết làm nền tảng để phát triển năng lực chuyên môn. Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trƣng ở những lĩnh vực nhất định, ví dụ nhƣ năng lực toán học, năng lực ngôn ngữ [26, tr31]. 11 Tuy nhiên, năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên môn không tách rời mà quan hệ chặt chẽ với nhau.
Trong một báo cáo nghiên cứu về năng lực và mức độ thành công trong kinh doanh, nhóm nghiên cứu của Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng đã nêu rõ năng lực là tổ hợp các thuộc tính về khả năng, tâm lý và phẩm chất của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo đạt kết quả nhƣ đề ra. Tƣơng tự nhƣ các định nghĩa về năng lực trong tâm lý hoặc kinh doanh, trong giáo dục các nhà nghiên cứu cũng đƣa ra các định nghĩa có nội hàm tƣơng đƣơng. Chẳng hạn, Trần Khánh Đức, trong “Nghiên cứu nhu cầu và xây dựng mô hình đào tạo theo năng lực trong lĩnh vực giáo dục” đã nêu rõ năng lực là “khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con ngƣời (tri thức, kỹ năng, thái độ, thể lực, niềm tin…) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp” [11, tr18]. Ở một nghiên cứu khác về phƣơng pháp dạy học tích hợp, Nguyễn Anh Tuấn (Trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật TP.
Hồ Chí Minh) đã nêu một cách khá khái quát rằng năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố nhƣ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm [25, tr53]. Nhƣ vậy, xét một cách chung nhất, năng lực là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả. Công vụ, thực thi công vụ Trong ngôn ngữ tiếng Việt, công vụ đƣợc hiểu theo nhiều phạm vi rộng hẹp khác nhau. Theo một nghĩa phổ thông, "công vụ" là “các việc công”.
Các việc công này đƣợc thực hiện vì lợi chung, lợi ích cộng đồng, lợi ích xã hội, lợi ích Nhà nƣớc [38, tr211]. Theo nghĩa này, công vụ có phạm vi rất rộng. Ở một phạm vi hẹp hơn, công vụ chỉ giới hạn trong hoạt động QLNN, do đó có 12 quan niệm cho rằng công vụ là chức năng tổ chức và hoạt động QLNN nhằm ổn định, phát triển xã hội và đời sống công dân thông qua các công sở, đơn vị phục vụ và toàn thể cán bộ công nhân viên nhà nƣớc. Dƣới đây là một số cách hiểu khác về công vụ: Công vụ theo từ điển Oxford, đƣợc hiểu là toàn bộ các cơ quan của Chính phủ không kể lực lƣợng quân đội hoặc công vụ sử dụng để chỉ một nhóm ngƣời làm việc trong các cơ quan nhà nƣớc (dân sự).
Công vụ là hoạt động đem lại quyền lợi chung cho mọi ngƣời. Điều này cũng có thể thấy: công vụ (thuật ngữ) càng gần với khái niệm dịch vụ công, khu vực công, hành chính công. Công vụ là một loại lao động (hoạt động) đặc biệt thực hiện chức năng QLNN, thi hành luật pháp sử dụng hiệu quả nguồn lực công (công sản, ngân sách) nhằm đáp ứng mục tiêu của Nhà nƣớc (chính trị) đã đề ra trong giai đoạn phát triển. Tuy nhiên, công vụ thƣờng hiểu theo nghĩa của các hoạt động cụ thể hơn là cơ cấu.
Công vụ gắn liền trực tiếp với con ngƣời là công chức. Công vụ bao gồm toàn bộ những ngƣời đƣợc Nhà nƣớc hoặc cộng đồng lãnh thổ bổ nhiệm vào một công việc thƣờng xuyên trong một công sở hay một thực thể công, và đƣợc xếp vào một trong những ngạch của nền hành chính. Nhƣ vậy, có quan niệm rộng, hẹp về công vụ. Nhƣng dù tiếp cận từ góc độ nào thì công vụ cũng đƣợc hiểu là một loại hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý được thực thi bởi đội ngũ CBCC nhà nước hoặc những người khác khi được nhà nước trao quyền nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xã hội.
Từ khái niệm công vụ ở trên, có thể hiểu khái niệm thực thi công vụ là các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, của Đảng, tổ 13 chức chính trị - xã hội trong lãnh đạo, quản lý và tham gia quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, đ ng thời tổ chức cung ứng và phục vụ các nhu cầu chung của xã hội, của nhân dân không vì mục đích lợi nhuận. Chủ thể thực thi công vụ là CBCC. Và qua thực tiễn, hoạt động thực thi công vụ không chỉ thuần tuý mang tính quyền lực nhà nƣớc, mà còn bao gồm cả hoạt động của các tổ chức do nhà nƣớc thành lập (đƣợc nhà nƣớc u quyền) để phục vụ các nhu cầu của nhân dân. Các hoạt động này đều do CBCC nhân danh nhà nƣớc tiến hành.
Bao gồm các hoạt động nhân danh quyền lực nhà nƣớc và các hoạt động của các tổ chức đƣợc nhà nƣớc u quyền. Ở các nƣớc trên thế giới, khi đề cập đến công vụ, ngƣời ta ít nói đến yếu tố quyền lực nhà nƣớc mà thƣờng chỉ nói tới công chức nhân danh pháp luật hoặc nhân danh nhà nƣớc mà thôi. Bởi lẽ, pháp luật là công cụ chính, chủ yếu do nhà nƣớc ban hành để thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc. Ngoài ra, ở Việt Nam do đặc thù về thể chế chính trị nên hoạt động công vụ còn bao gồm cả hoạt động của CBCC trong các cơ quan của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội.
Hoạt động này đƣợc tiến hành theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đƣợc Nhà nƣớc giao và tuân theo pháp luật. Ngoài ra, thực thi công vụ mang tính thƣờng xuyên, chuyên nghiệp. Mục tiêu của hoạt động này là: nhằm thực hiện những mục tiêu sau: phục vụ nhà nƣớc; phục vụ nhân dân; không có mục đích riêng của mình; mang tính xã hội cao vì phục vụ nhiều ngƣời; duy trì an ninh, an toàn trật tự xã hội; thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển; không vì lợi nhuận.