Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công chức tại UBND cấp huyện. Chương 2: Thực trạng quản lý công chức tại UBND huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý công chức tại UBND huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN 1.
Khái quát về quản lý công chức 1. Một số khái niệm cơ bản a) Khái niệm quản lý Quản lý là một hoạt động lao động đặc biệt của con người được hình thành từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động, con người có sự hợp tác với nhau, cùng nhau hoạt động với những mục đích chung nào đó. Hoạt động này kết nối các hoạt động lao động sản xuất khác của con người lại với nhau hướng tới hoàn thành một công việc nào đó mà riêng một cá nhân không thể nào làm được. Quản lý rất cần thiết cho tất cả mọi lĩnh vực hoạt động đời sống của con người.
Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý, dù là nhóm nhỏ hay nhóm lớn, nhóm chính thức hay nhóm không chính thức và bất kể nội dung hoạt động nhóm đó là gì. Có thể nói quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó. Theo nghĩa chung nhất, quản lý là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ nhất định. Tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau, khái niệm quản lý được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau.
Cho đến nay, định nghĩa về nội hàm khái niệm quản lý có rất nhiều các học giả có những quan điểm, quan niệm khác nhau: Theo F.W Taylor (1856-1915) là người khởi xướng trường phái “quản lý theo khoa học”, tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác”.P Follet (1868-1933) tiếp cận quản lý dưới góc độ quan hệ con người, khi xem xét khía cạnh nghệ thuật quản lý đã cho rằng: “Quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hoàn thành thông qua người khác”. Barnarrd (1866 - 1961) tiếp cận quản lý từ góc độ của lý thuyết hệ thống, là đại biểu xuất sắc của lý thuyết quản lý tổ chức đã nêu những điểm cơ bản của quản lý như: quản lý là một hoạt động chuyên môn của tổ chức; quan hệ quản lý thể hiện ở sự sẵn sàng hợp tác; mục tiêu quản lý và thông tin trong quản lý [5, tr. Ở Việt Nam, theo Từ điển tiếng Việt: Quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Khái niệm quản lý ở đây muốn nói đến quản 12 lý con người, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở quản lý nhà nước.
Khái niệm chung nhất về quản lý nhà nước được hiểu cô đọng ở việc “tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội theo pháp luật” [20, tr. Theo tác giả Phạm Quang Lê thuộc Khoa quản lý doanh nghiệp thuộc trường đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội thì “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất”[8, tr. Theo tác giả, quản lý bao gồm 4 yếu tố cơ bản: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý và môi trường quản lý. Theo cố tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý phải diễn ra gắn liền với tổ chức, nhóm các tác giả cho rằng “quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động(chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [8, tr.
Các tiếp cận này chỉ gắn quản lý với tổ chức, trên thực tế một nhóm phi chính thức, một tập hợp những người từ các tổ chức khác nhau nhưng hoạt động trong một dự án, vì một mục tiêu chung nào đó cũng cần được quản lý. Nghĩa là quản lý không nhất định chỉ xảy ra trong tổ chức. Như chúng ta đã biết, quản lý là một dạng lao động đặc biệt của con người, ở đó con người tuân theo một sự chỉ dẫn và sắp xếp của một chủ thể quản lý. Chủ thể này tác động một cách có ý thức lên đối tượng quản lý, bằng công cụ quyền lực có được từ những cách thức khác nhau, theo một hoặc một số bước của quy trình quản lý nhất định và bằng những nguyên tắc, phương pháp, phong cách quản lý khác nhau, sử dụng những công cụ, phương tiện, nguồn lực khác nhau để từ đó hướng đến một mục tiêu rõ ràng cần phải giải quyết và trong một điều kiện môi trường nhất định.
Cho dù cách tiếp cận nào thì bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) hợp quy luật nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đã đề ra. Quản lý là khoa học vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hóa và là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt. Quản lý là khoa học phân loại kiến thức, giải thích các mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý, dự báo kết quả. Một khía cạnh khác, quản lý là nghệ thuật bởi lẽ nó là hoạt động đặc biệt, trong đó quan hệ quan trọng nhất là con người, đòi hỏi phải vận dụng 13 hết sức khéo léo, linh hoạt những kinh nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã được đúc kết.
Nghệ thuật đó thể hiện ở thái độ cư xử có văn hoá, khôn ngoan và tế nhị, trong việc vận dụng các nguyên tắc chung vào từng con người cụ thể. Nói cho cùng, nghệ thuật quản lý con người cũng là dựa trên các quy luật tâm lý học. Từ cách tiếp cận như vậy, theo quan điểm của tôi: Quản lý là sự tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo một quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các nguyên tắc, phương pháp, công cụ, phương tiện để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi. Như vậy, thông qua định nghĩa trên đây, chúng ta cần quan tâm đến một loạt các khía cạnh của quản lý như: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, quan hệ quản lý, quyền lực quản lý, quy trình quản lý, nguyên tắc quản lý, phương pháp quản lý, công cụ quản lý, nguồn lực quản lý và sự kết hợp giữa các nguồn lực… Vấn đề cốt lõi của quản lý đó là: - Chủ thể quản lý (ai quản lý): Chỉ có thể là con người hoặc một tổ chức do con người cụ thể lập nên.
- Khách thể quản lý (quản lý ai, quản lý cái gì, quản lý công việc gì): Đó có thể là người, tổ chức, vật chất hay sự việc. Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp lý các tác động đó nhằm đạt mục tiêu. Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa tri thức và lao động. Xét dưới góc độ điều khiển học hành động quản lý chính là quá trình điều khiển sắp xếp tác động làm cho đối tượng quản lý thay đổi trạng thái.
Quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, phát sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp. b) Khái niệm công chức và công chức cấp huyện * Khái niệm công chức: Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau ở các quốc gia. Việc xác định ai là công chức thường do các yếu tố về hệ thống thể chế chính trị; hệ thống thể chế hành chính; tính truyền thống; sự phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố văn hoá.
Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, dấu hiệu chung của công chức ở một nước nào đó thông thường là công dân của nước đó được tuyển dụng qua thi tuyển, bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc; hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 14 Công chức theo nghĩa chung là nhân viên trong cơ quan nhà nước, đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương và các khoản thu nhập từ ngân sách nhà nước. Công chức của một quốc gia thường là công dân, người có quốc tịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế. Phạm vi làm việc của công chức là các cơ quan nhà nước, tuy nhiên pháp luật nhiều nước quy định công chức có thể làm việc không chỉ trong cơ quan nhà nước.
Phạm vi công chức có thể rộng hẹp khác nhau. Có nước coi công chức là những người làm việc trong bộ máy nhà nước (bao gồm cả các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp hay lực lượng công an, quân đội); có nước lại chỉ giới hạn những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước hay hẹp hơn nữa là trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Trong một số tài liệu tham khảo, thuật ngữ công chức được hiểu theo nhiều cách khác nhau; một số cách tiếp cận phổ biến là: Thứ nhất, công chức là người làm việc thường xuyên trong bộ máy hành chính nhà nước. Quan niệm này nhằm để phân biệt những người làm cho Nhà nước trong các tổ chức, cơ quan khác của Nhà nước bằng tính thường xuyên của công vụ.
Tuy nhiên, trong đó không đề cập đến điều kiện gì đã tạo cho họ là người làm thường xuyên. Thứ hai, công chức là người làm việc trong bộ máy nhà nước. Cách tiếp cận này mở rộng đối tượng làm việc cho Nhà nước không chỉ trong các cơ quan thực thi quyền hành pháp mà cả các cơ quan quyền lực khác như lập pháp, tư pháp. Đồng thời cũng bao gồm cả những người trong các lực lượng công an, quân đội và không hạn chế những người làm việc thường xuyên, bầu cử cũng như những người làm công khác.
Thứ ba, công chức là người đại diện cho Nhà nước để thực thi quyền hành pháp. Cách tiếp cận này hạn chế nhóm người làm việc cho Nhà nước trong bộ máy hành pháp. Điều đó cũng có nghĩa là những người thực thi nhiệm vụ công vụ mang tính dịch vụ không thuộc công chức.