CHƯƠNG 1 HOẠT ĐỘNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VÈ TỎ CHỨC VÀ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN QUẬN 1. Vị trí pháp lý của Uỷ ban nhân dân quận được xem là cấp trung Trong hệ thống chính trị ở địa phương, cấp huyện hành chính có từ lâu đời trong gian giữa cấp tỉnh và cấp cơ sở. Huyện là cấp đồng dân cư gồm nhiều xã, lịch sử Việt Nam. Huyện có vị trí trong một cộng.
hiện các nhiệm vụ quản lý là cấp trên trực tiếp của xã, có chức năng thực là đơn vị hành chính có vị trí hành chính nhà nước trên địa bàn. Do đó, huyện là một bộ phận quan trọng quan trọng trong hệ thống hành chính nhà nước, năng quyết định các biện pháp trong hệ thống chính trị ở cấp huyện, có chức những vấn đề được cấp trên để thi hành pháp luật ở địa phương, quyết định của địa phương và giám sát việc phân cấp, quyết định các vấn đề quan trọng dân đối với Chủ thực hiện pháp luật và các Nghị quyết của Hội đồng nhân Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và bàn. g dân và các cơ quan hành chính nhà nước trên địa ng dựa trên hệ thông “Cơ quan chính quyền nhà nước ở cấp địa phươ của kế hoạch nhà thống nhất về luật pháp, chính sách và theo định hướng về kinh tế, xã hội, đối với mọi nước để thực hiện chức năng quản lý nhà nước luật nghiêm tổ chức cá nhân hoạt động trên lãnh thô, bảo đảm thi hành pháp tế - xã hội ở minh, chăm lo đời sống nhân dân, xây dựng kết cầu hạ tầng kinh địa phương, củng cố an ninh và quốc phòng ”°. cấp cơ sở, theo đó quận Do cấp huyện là cấp trung gian giữa cấp tỉnh và tuy được hình thành sau là đơn vị hành chính tương đương với huyện.
Quận từ nhiều năm nay, có Hiến pháp 1959, nhưng đã tồn tại là một cấp hành chính địa bàn, đây cũng là chức năng quản lý hành chính nhà nước về đô thị trên của phường, mà điểm khác của quận so với huyện. Quận là cấp trên trực tiếp. -—- Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Từ điện ® Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2007), Biên niên sử các Bách Khoa, Hà Nội, (2), tr552. cơ sở, nơi trực phường đã được hình thành từ lâu đời, là đơn vị hành chính tiếp giải quyết các công việc hàng ngày của nhân dân.
và đổi mới tổ Sáu mươi ba năm qua, cùng với việc xây dựng, kiện toàn ta rất quan tâm vấn chức bộ máy nhà nước ở Trung ương, Đảng và Nhà nước đề tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Tuyên ngôn - Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản đã chấm dứt chế độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà thuộc địa của chủ độ quân chủ phong kiến hàng nghìn năm, xoá bỏ chế độ Tám 1945 nghĩa thực dân, đế quốc trên đất nước ta. Sau cách mạng tháng nhân dân, là tô thành công, các Ủy ban giải phóng đã trở thành các Ủy ban nhân dân sau chức chính quyền tiền thân của Hội đồng nhân dân và Ủy ban địa phương, này. Để xây dựng ngay cơ sở pháp lý cho tổ chức chính quyền chính quyền địa Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký hai Sắc lệnh đầu tiên về tổ chức phương, cụ thể là: + Sắc lệnh số 63 ngày 22 thang 11 nam 1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ.
Hội đồng nhân + Sắc lệnh số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945 về tổ chức dân và Ủy ban hành chính thành phó, khu phó. được tô chức Theo hai Sắc lệnh này, chính quyền địa phương ở nước ta xã. Chính ở4 cấp: cấp kỳ — cấp tỉnh, thành phố — cấp huyện, khu phố — cấp chỉ tổ chức quyền cấp huyện (quận) được xác định là cấp trung gian. Ở huyện Hội đồng nhân Ủy ban hành chính.
Uỷ ban hành chính huyện do đại biểu của 01 Thư ký dân các xã trong huyện bầu ra, gồm: 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch, thi hành và và 02 ủy viên dự khuyết. Uỷ ban hành chính huyện có nhiệm vụ đồng nhân dân kiểm soát sự thi hành mệnh lệnh của cấp trên, kiểm soát Hội công việc trong và Uỷ ban hành chính các xã trong huyện; giải quyết các tuần phòng, phạm vi huyện và điều khiển đội cảnh binh đặt ở huyện để lo việc và trị an ở huyện (Điều 78, Sắc lệnh 63). lệnh Hòa bình lập lại trên miền Bắc năm 1954, Chính phủ ban hành Sắc ban số 04/§L ngày 20 tháng 7 năm 1957 về bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ hành chính các cấp. Ngày 31 tháng 5 năm 1958, Chính phủ đã ban hành Sắc mới luật số 110-§L về tổ chức chính quyền ở các địa phương trong giai đoạn hội thông (được Quốc hội khoá I thông qua tại kỳ họp thứ 8).
Sau khi Quốc Hội qua Hiến pháp năm 1959, năm 1962 Quốc hội thông qua Luật Tổ chức mới đồng nhân dân và ~~ ban hành chính các cấp đã đánh dấu một giai đoạn về tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta. - Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, để thực hiện thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, ngày 25 tháng 4 năm 1976 cử tri cả nước tiến hành tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung cả nước. Quốc hội đã quyết định vấn đề xây dựng và ban hành một bản Hiến pháp mới cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ 6 nghĩa Việt Nam thống nhất. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, ngày 30 tháng năm 1983 Quốc hội thông qua Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp.
Hiến pháp năm 1980 và Luật 1983 xác định: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại điện cho nhân dân địa phương, còn Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. Ngày 30 tháng 6 năm 1989, Quốc hội ra nghị quyết sửa đổi một số điều Hiến pháp năm 1980, quy định thành lập Thường trực Hội đồng nhân dân từ cấp huyện và tương đương trở lên để tách chức năng thường trực Hội đồng nhân dân khỏi Uỷ ban nhân dân, cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. Trên cơ sở sửa đổi Hiến pháp, cũng tại kỳ họp này, ngày 30 tháng 6 năm 1989, Quốc hội thông qua Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi). Theo quy định của Luật 1989, Thường trực Uỷ ban nhân dân các cấp bị bãi bỏ, những nhiệm vụ, quyền hạn Uỷ ban nhân dân, theo quy định của Luật phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số tại phiên họp của toàn thể Uỷ ban nhân dân.
- Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) là Hiến pháp thẻ chế hoá chủ trương, đường lối đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh đạo đã tạo ra một bước cải cách quan trọng trong, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm giải quyết các nhiệm vụ của quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế-xã hội từ tập chủ nghĩa. trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội mới mạnh Nhưng khác với tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương có sự đổi chính quyền địa mẽ so với Hiến pháp năm 1980, mô hình tổ chức các cấp 2001), Luật phương theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm được Quốc hội 1994 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân có sự thay khoá XI thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 về cơ bản không đổi nhiều so với giai đoạn trước công cuộc đổi mới. Điều 123, Hiến pháp 1992 và Điều 2, Luật 2003 xác định: "Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, chấp hành Hiến cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân", Mặt khác tại Điều 4, Luật 2003 quy định "Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính"Š. Do đó đối với có Hội huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung làcấp huyện) thì đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Như vậy, vị trí và tính chất pháp lý của Uỷ ban nhân dân theo Hiến.pháp 1992 về cơ bản không thay đổi so với Hiến pháp 1980. Đã do Hội dồng nhân dân bầu thì về nguyên tắc, có thể bị bãi miễn. Tuy nhiên, Hiến pháp mới có đổi mới chút ít ở cách quy định về chế độ trách nhiệm, vì: theo quy định của Hiến pháp 1980 thì Uỷ ban nhân dân phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân và cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên; Hiến pháp mới chỉ quy định trách nhiệm chấp hành pháp luật. Đổi mới này cũng nhằm hạn chế sự chỉ đạo quá vụn vặt của các cấp trên và phát huy quyền chủ động của Uỷ ban nhân dân.
Nhưng quan điểm này thể hiện không nhất quan, vì Điều 2 và Điều 120, Luật 2003 cũng trở về quan điểm của Hiến pháp 1980. Tuy vậy, Điều 122, Hiến pháp mới vẫn quy định rõ trách nhiệm của chủ tịch ? Nhà xuất bản Thống kê (2003), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, NXB Thống kê, Hà Nội, tr 6. * Nhà xuất bản Thống kê (2003), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, NXB Thống kê. Hà Nội, tr 7.
10 Hội và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân trả lời chất vấn của đại biêu đồng nhân dân trước hội đồng trong thời hạn do luật định. đồng nhân dân Tóm lại, vị trí pháp lý của Uỷ ban nhân dân là do Hội chính Nhà bầu ra, là cơ quan chap hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành thực hiện chức nước ở địa phương, (cấp huyện). Uỷ ban nhân dân là cơ quan do Uỷ ban nhân năng quản lý nhà nước vừa do Hội đồng nhân dân giao, vừa phủ; Uỷ ban dân cấp trên giao cho và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính g xuyên của địa nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước hoạt động thườn của cả phương, thuộc hệ thống hành chính nhà nước thống nhất và thông suốt thực hiện việc chỉ đạo, điều hành hàng ngày công việc hành nước; nhưng chính nhà nước ở địa phương.