Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa công sở. Chƣơng 2: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn, Hải Phòng. Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm xây dựng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn, Hải Phòng. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ 1.
KHÁI NIỆM VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm rất quen thuốc và gần gũi. Nói đến văn hóa có lẽ ai cũng hiểu, cũng cảm nhận đƣợc một phần về nó. Nhƣng để hiểu một cách đồng nhất và đầy đủ thì không đơn giản chút nào.
Hiện nay có ba cách hiểu về khái niệm văn hóa. Theo nghĩa rộng, văn hóa là những hoạt động sáng tạo ra những giá trị và tinh thần của loài ngƣời. Theo nghĩa này thì toàn bộ hoạt động của con ngƣời trong đó chứa đựng các yếu tố sáng tạo, tiến bộ và phát triển đều đƣợc coi là văn hóa. Ví dụ: một sáng kiến, một phát minh trong sản xuất; một công trình kiến trúc; một tác phẩm văn học; thậm chí là một cử chỉ đẹp trong giao tiếp.
Với nhận thức đó,văn hóa là chìa khóa của rất nhiều thuật ngữ liên quan nhƣ; văn hóa đạo đức, văn hóa giao tiếp, văn hóa chính trị, văn hóa sinh thái, van hóa tín ngƣỡng. Theo nghĩa thông thƣờng, văn hóa là những hoạt động sáng tạo tiến bộ tác động đến đời sống tinh thần, ý thức và tƣ tƣởng của con ngƣời. Nó làm cho con ngƣời đƣợc nâng lên về trình độ trí tuệ, có tâm hồn, có lối sống cao đẹp hơn. Vì vậy, những ngƣời có học thức, có cách ứng xử thông minh, lễ độ thƣờng đƣợc xem là những ngƣời “có văn hóa”, hay ngƣợc lại.
Đây là cách hiểu phổ biến nhất của khái niệm văn hóa. Theo nghĩa nay, Đảng và Nhà nƣớc ta đã phát động phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa mới”, trong đó có phong trào “xây dựng đời sống văn hóa cơ sở” ở các địa phƣơng, phong trào “văn hóa công sở” ở các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nƣớc. 10 Từ ba cách hiểu này, con ngƣời đã đƣa ra rất nhiều định nghĩa về văn hóa. Trong cuốn “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới”, giáo sƣ Phan Ngọc cho biết trên thế giới có đến 400 định nghĩa về văn hóa, và đó chƣa phải là con số cuối cùng.
Để có thể định nghĩa khái niệm với nội hàm vô cùng rộng lớn này, chúng ta phải nghiên cứu nghĩa gốc của nó. Theo tiếng Việt gốc Hán, văn có nghĩa là “chữ”, là “nét vẽ”; hóa là sự “biến đổi”. Nói đến nét vẽ là nói đến sự thể hiện cái đẹp ra bên ngoài, còn nói đến biến đổi là sự biến đổi theo hƣớng tích cực. Nhƣ vậy, văn hóa là sự biến đổi từ cái xấu thành cái đẹp, cái hỗn tạp thành cái thanh tao, tinh tế.
Theo chữ La tinh, từ Culture – văn hóa, có nghĩa gốc là “canh tác”, “vun trồng”. Sở dĩ sau này nó có nghĩa là văn hóa vì hoạt động cày cấy, vun trồng là hoạt động có ý thức đầu tiên của loài ngƣời. Nó giúp con ngƣời thoát khỏi cuộc sống nguyên thủy, bƣớc vào cuộc sống tập thể với những biểu hiện xã hội đầu tiên, đánh dấu sự hình thành của văn hóa. Cùng với thời gian, từ “văn hóa” đã mang thêm nhiều nội dung mới.
Dù hiểu nó theo góc độ nào, theo nghĩa gốc hay theo hình thức biểu hiện thì văn hóa luôn đề cập đến vấn đề: con ngƣời, xã hội, bản sắc, sáng tạo và phát triển. Ở đây, có thể đƣa ra hai định nghĩa về văn hóa tiêu biểu nhất. Thứ nhất là định nghĩa của Federico Mayor, tổng thƣ ký UNESCO đã nêu ra nhân lễ phát động Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa (1988-1997): “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc.” Theo định nghĩa này, văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con ngƣời.
11 Thứ hai là định nghĩa của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Nhƣ vậy, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, con ngƣời với tự nhiên. Văn hóa gắn bó mật thiết với con ngƣời, thấm sâu vào mọi lĩnh vực hoạt động của con ngƣời.
Khái niệm công sở Thuật ngữ Công sở là thuật ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi trong công việc và cuộc sống hàng ngày. Theo nghĩa rộng công sở là những tổ chức đặt dƣới sự quản lý của Nhà nƣớc để tiến hành những công việc chuyên ngành. Theo Đoàn Trọng Tuyến (1992): “Tất cả những cơ quan công ích được nhà nước công nhận thành lập, chịu sự điều chỉnh của luật hành chính và các luật khác đều được gọi là công sở”. Nhƣ vậy, công sở bao gồm các cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức xã hội, các bệnh viện, trƣờng học.
Theo nghĩa hẹp hơn, công sở là các cơ quan hành chính nhà nƣớc, là các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc có chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc thông qua hoạt động chấp hành và điều hành thực hiện quản lý hành chính trên các lĩnh vực đời sống xã hội. 12 Với hai cách hiểu này, công sở có nghĩa tƣơng đồng với cơ quan. Đó là bộ phận của bộ máy nhà nƣớc, có chức năng, nhiệm vụ, có tính cơ cấu và quyền lực. Theo nghĩa thông thƣờng và phổ biến nhất, công sở là trụ sở làm việc, là nơi diễn ra các hoạt động hành chính văn phòng của các cơ quan công đƣợc nhà nƣớc thành lập.
Điều đó có nghĩa là công sở phải gắn với một không gian nhất định, có diện tích cụ thể, cơ sở vật chất cụ thể. Công sở là nơi diễn ra mọi hoạt động của cơ quan. “Công sở là nơi để tổ chức các cơ chế kiểm soát công việc hành chính, soạn thảo, xử lý văn bản phục vụ cho công việc chung, là nơi phối hợp hoạt động của các cán bộ công chức theo một cơ chế nhất định” (Nguyễn Văn Thâm, 2004). Nói cách khác công sở là vỏ bọc vật chất để một cơ quan tồn tại và phát triển.
Khái niệm văn hóa công sở Công sở là một tổ chức, vì vậy khái niệm văn hóa công sở bắt nguồn trƣớc hết từ khái niệm văn hóa tổ chức. Mỗi tổ chức bất kỳ đều có phƣơng thức lãnh đạo khác nhau, công việc, thói quen, tƣ tƣởng và quan điểm khác nhau. nên hình thành nên những giá trị văn hóa khác nhau. Sự khác nhau đó tạo nên bản sắc riêng của tổ chức, giúp ta phân biệt tổ chức này với tổ chức kia.
Văn hóa tổ chức đƣợc quan niệm là: “hệ thống những giá trị, niềm tin, sự mong đợi của các thành viên trong tổ chức, tác động qua lại với cơ cấu chính thức và tạo nên những chuẩn mực hành động có tính truyền thống, tạo nên đặc điểm về cách thức làm việc của tổ chức mà mọi ngƣời trong đó đều tuân theo một cách tự nguyện” (Nguyễn Văn Thâm, 2004). Từ cách hiểu này, trong một giới hạn nào đó, chúng ta có thể hiểu văn hóa công sở là cách thức điều hành công sở, các chuẩn mực về tƣ tƣởng, hành động của nhân viên trong công sở, đƣợc hình thành một cách có định hƣớng nhằm nâng cao hiệu 13 quả hoạt động của công sở. Những giá trị văn hóa công sở tạo nên niềm tin, thái độ, phong cách làm việc của nhân viên. Nếu hiểu khái niệm văn hóa theo nghĩa thông thƣờng, là những sáng tạo, tiến bộ tác động đến đời sống tinh thần, ý thức, tƣ tƣởng của con ngƣời thì văn hóa công sở chính là nét đẹp trong ứng xử, phong cách lầm việc, tƣ tƣởng, thái độ của cán bộ, công chức.
Tuy nhiên, đã nói đến văn hóa thì phải nói đến cả giá trị vật chất và tinh thần. Công sở là một trụ sở làm việc cụ thể, với những trang thiết bị, cơ sở vật chất cụ thể. Do đó, văn hóa công sở phải gồm cả giá trị hữu hình nhƣ môi trƣờng, cảnh quan, cách bố trí phòng làm việc, hệ thống trang thiết bị. Trên cơ sở phân tích, có thể đƣa ra khái niệm văn hóa công sở nhƣ sau: Văn hóa công sở là tổng hòa những giá trị hữu hình và vô hình, bao gồm: môi trường – cảnh quan, phương tiện làm việc, đạo đức nghề nghiệp, tác phong, mối quan hệ, ứng xử và các hoạt động tập thể do cán bộ công chức trong công sở đó tạo nên nhằm xây dựng một công sở văn minh, lịch sự, đúng luật pháp.
Đây đƣợc coi là khái niệm đƣợc sử dụng xuyên suốt trong luận văn. Xây dựng văn hóa công sở là xây dựng một môi trƣờng làm việc văn minh, sạch đẹp, một nề nếp làm việc khoa học, kỷ cƣơng. Nó thể hiện qua quy chế, nội quy của công sở, ý thức làm việc và cách cƣ xử của nhân viên. Việc xây dựng văn hóa công sở đòi hỏi chúng ta phải „gạn đục, khơi trong”, phát huy những cái tích cực, tiến bộ, đồng thời hạn chế những thói quen, những cách nghĩ trì trệ, tiêu cực.
Bởi văn hóa tuy mang tính bản sắc nhƣng bên cạnh đó nó có tính kế thừa và phát triển theo hƣớng hoàn thiện hơn. Có thể nói văn hóa công sở là một khái niệm rất mở, nó vừa hữu hình lại vừa vô hình, gồm cả những giá trị vật chất và tinh thần. Vì thế để nhận ra 14 những yếu tố văn hóa của một công sở không phải là dễ, để điều chỉnh văn hóa của một công sở càng không đơn giản.