phần mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ 1. Cơ sở lý luận về năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã 1.
Chính quyền cấp xã 1. Khái niệm chính quyền cấp xã Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì: “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định”. Nhƣ vậy, chính quyền cấp xã bao gồm: Hội đồng nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp xã.
Đây là cấp chính quyền có số lƣợng lớn nhất và có đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội đa dạng nhất trong các loại hình đơn vị hành chính với 9.064 xã, chiếm trên 80% tổng số đơn vị hành chính cấp cơ sở hiện nay (11.162 xã, phƣờng, thị trấn). Chính quyền cấp xã là cầu nối giữa nhà nƣớc với các tổ chức và cá nhân trong xã, đại diện cho nhà nƣớc, để thực thi quyền lực nhà nƣớc, triển khai, tổ chức thực hiện những chủ trƣơng, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nƣớc ở cấp xã. Đặc điểm của chính quyền cấp xã - Chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền các cấp của Nhà nƣớc ta (trung ƣơng, tỉnh, huyện, xã); là cấp quản lý hành chính Nhà nƣớc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ sở. - Chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức và thực hiện đƣờng lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nƣớc với nhân dân, là cấp gần gũi nhân dân nhất, là nơi trực tiếp đáp ứng và giải quyết các yêu cầu chính đáng của nhân dân.
- Chính quyền cấp xã bao gồm Hội đồng nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân mà không có cơ quan Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nƣớc và đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành, cơ quan quản lý 8 hành chính Nhà nƣớc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ sở. - Chính quyền cấp xã là nơi phát huy tính tự quản của cộng đồng dân cƣ, là nơi trực tiếp vận động và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân.
Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã Chính quyền cấp xã có vị trí, vai trò rất quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, đặc biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc hiện nay. Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã đƣợc thể hiện ở những nội dung sau đây: - Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức và thực hiện đƣờng lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc đi vào cuộc sống. Thực tiễn cho thấy có hệ thống đƣờng lối, chính sách pháp luật đúng đắn, khoa học nhƣng ở đó chính quyền cấp xã hoạt động yếu kém thì đƣờng lối, chính sách, pháp luật chƣa thực sự đi vào cuộc sống, chƣa phát huy đƣợc sức mạnh của mình. Ở đâu chính quyền cấp xã hoạt động có hiệu quả thì ở đó đƣờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc đƣợc thực thi nghiêm minh, chính trị ổn định, kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân ngày càng đƣợc nâng cao.
- Chính quyền cấp xã là cấp quản lý các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn cơ sở. Hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động trong cả bộ máy nhà nƣớc. - Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền trực tiếp với dân, gần dân, sát dân nhất, là cấp chính quyền giải quyết và chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân, trực tiếp nắm bắt tâm tƣ, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân. - Chính quyền cấp xã là cấp hƣớng dẫn, giám sát các hoạt động tự quản của nhân dân nhằm tạo điều kiện cho nhân dân phát huy mọi khả năng phát triển kinh tế, xã hội.
Đây là nét đặc thù của chính quyền cấp xã so với các cấp chính quyền khác. - Chính quyền cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Nhà nƣớc với nhân dân. Chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đƣờng lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc cho nhân dân hiểu và thực hiện đƣờng lối, 9 chính sách, pháp luật đó và chính quyền cấp xã là cấp nắm bắt tâm tƣ, nguyện vọng, ý chí của nhân dân để phản ánh với cấp liên quan. - Cấp xã là nơi lƣu giữ các giá trị văn hoá truyền thống, phong tục, tập quán tiến bộ của dân tộc Việt Nam.
Chính quyền cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng đời sống văn hoá mới, đặc biệt là ở vùng nông thôn. Cán bộ chủ chốt cấp xã 1. Một số khái niệm liên quan - Khái niệm cán bộ Khoản 1, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ.
Những ngƣời đủ các tiêu chí chung của cán bộ mà đƣợc tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì đƣợc xác định là cán bộ. Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị đƣợc nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trƣớc Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân. Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theo các văn bản pháp luật chuyên ngành tƣơng ứng điều chỉnh hoặc theo Điều lệ. Do đó, căn cứ vào các tiêu chí do Luật Cán bộ, công chức quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội sẽ đƣợc các cơ quan có thẩm quyền của Đảng căn cứ Điều lệ của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể.
Những ai là cán bộ trong cơ quan nhà nƣớc sẽ đƣợc xác định theo quy định của Luật Tổ chức Chính quyền địa phƣơng và các quy định khác của pháp luật có liên quan. - Khái niệm cán bộ cấp xã Theo quy định tại Khoản 3, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức thì cán bộ cấp xã đƣợc hiểu nhƣ sau: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (chung là cấp xã) là công 10 dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Theo khái niệm trên, đối tƣợng là cán bộ cấp xã bao gồm những ngƣời đảm nhiệm những chức vụ sau: Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy cấp xã, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cấp xã (Bí thƣ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ; Chủ tịch Hội Nông dân; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh). Cũng theo khái niệm này thì cán bộ cấp xã hình thành thông qua con đƣờng bầu cử chứ không có cán bộ cấp xã hình thành theo con đƣờng khác.
Theo Điều 3, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 (nay đã có nghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2013 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 92/2009/NĐ-CP) của Chính phủ về chức danh, số lƣợng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phƣờng, thị trấn và những ngƣời hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì cán bộ cấp xã đƣợc quy định và bao gồm các chức danh sau: Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thƣ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. - Khái niệm cán bộ chủ chốt Từ trƣớc đến nay, trong công tác cán bộ, trong các văn bản, Nghị quyết của Đảng đề cập rất nhiều đến khái niệm cán bộ chủ chốt. Tuy nhiên, đến nay vẫn chƣa có một quan niệm thống nhất và những tiêu chí cụ thể để xác định trong bộ máy tổ chức của một cấp thì những ai đƣợc gọi là cán bộ chủ chốt và ai không phải là cán bộ chủ chốt. Có quan điểm cho rằng, cán bộ chủ chốt bao gồm toàn bộ cán bộ là ủy viên thƣờng vụ và Ban chấp hành của tổ chức Đảng, thƣờng trực của bộ máy chính quyền và ủy viên ban chấp hành các đoàn thể.
Có ngƣời lại quan niệm cán bộ chủ chốt là ngƣời đứng đầu quan trọng nhất. Trong mỗi tổ chức đều có tập thể lãnh đạo, trong tập thể lãnh đạo có ngƣời đứng đầu, có tác dụng chi phối chính toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định, ngƣời đó là cán bộ chủ chốt.