Đặt vấn đề. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Hành vi công dân tổ chức 2. Khái niệm Hành vi công dân tổ chức (Organizational Citizenship Behaviour (OCB)) là một khái niệm mới bắt nguồn từ hành vi tổ chức, định nghĩa của OCB là "hành vi mang tính cá nhân, tự nguyện, không được thừa nhận một cách trực tiếp và rõ ràng trong hệ thống khen thưởng nhưng có tác động làm thúc đẩy hoạt động hiệu quả của tổ chức" (Organ, 1988).
OCB đóng góp gián tiếp cho tổ chức thông qua việc duy trì hệ thống của tổ chức hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ (Organ, 1997). Nhận định được đâu là hành vi tổ chức, đâu là hành vi công dân tổ chức thì dựa trên hành vi trách nhiệm của cá nhân về quyền công dân tổ chức đó chính là những hành vi không thông qua hệ thống khen thưởng chính thức, không liên quan đến vấn đề thưởng phạt, đây là hành vi xuất phát từ thái độ của mỗi cá nhân mang tính tự nguyện không phải là nhiệm vụ của mình, không có trong quy định của tổ chức, không được đào tạo (Van Dyne và cộng sự, 1995). Vai trò của OCB Cách đây gần bốn thập niên, Katz (1964) chỉ ra tầm quan trọng của một hành vi sáng tạo và tự phát vượt quá yêu cầu về vai trò nhưng rất cần thiết cho việc mang lại hiệu quả hoạt động của tổ chức. Sau khi nghiên cứu tiên phong của Smith, Organ và Near (1983) hành vi công dân tổ chức đánh giá qua các đặc điểm là hợp tác, hòa đồng, thiện chí.
Mặc dù một số bài nghiên cứu thực nghiệm về khái niệm vai trò của OCB làm tăng năng suất lao động và nâng cao khả năng làm việc của mỗi cá nhân trong tổ chức, gắn kết công việc nhiều hơn do thái độ dấn thân trong công việc, sự gắn bó của các mối quan hệ giữa cá nhân trong tổ chức. Từ các hành vi cá nhân trong tổ chức được nêu trên mang tính tự nguyện và dấn thân nhằm mang lại hiệu quả hoạt động của tổ chức. Các nghiên cứu thực nghiệm cho OCB được xác định và đo lường lần đầu tiên bởi Smith, Organ và Near (1983) là hành vi không xuất phát từ nhiệm vụ công việc của cá nhân hay cũng không xuất phát từ khen thưởng, không trực tiếp tạo ra hiệu 6 quả hoạt động của tổ chức nhưng nó mang sự lan tỏa cho mỗi cá nhân trong tổ chức về ý thức làm việc là sự quan tâm, hỗ trợ đồng nghiệp cùng chung sức vì lợi ích của tổ chức. Trong việc tìm ra các khía cạnh của các nhà nghiên cứu, họ đã tiến hành phỏng vấn với một số nhà quản lý từ nhiều tổ chức với mục đích xác định các trường hợp hữu ích cho tổ chức, quan tâm nhiều hơn các khía cạnh về hành vi công dân tổ chức tác động tích cực hơn về giải quyết công việc về khích lệ nhân viên làm việc hiệu quả hơn, gắn bó với tổ chức.
Một loạt các mục đích nghiên cứu sau này được quan tâm nhiều hơn nữa là phong cách lãnh đạo, sự thỏa mãn công việc luôn được gắn liền với hành vi công dân tổ chức. Vai trò của hành vi công dân tổ chức được Organ xem xét và đánh giá cao trong các bài nghiên cứu của ông. Ông tổng hợp tài liệu và xác định các khía cạnh khác của OCB: hành vi cao thượng, hành vi tận tâm, phẩm hạnh nhân viên, hành vi tận tình và hành vi tuân thủ, Organ đã đề xuất một hệ thống 5 nhân tố của OCB. Sau đó Podsakoff, MacKenzie, Moorman và Fetter (1990) đã phát triển các nghiên cứu thực nghiệm cho từng nhân tố của OCB.
Sự phân loại của Organ cùng với nghiên cứu Podsakoff MacKenzie, Moorman và Fetter, hình thành các nhân tố phổ biến nhất của OCB trong các tài liệu nghiên cứu. Từ các nghiên cứu nêu trên, Graham (1991) đề xuất một khái niệm khác của OCB, được gọi là người công dân trong tổ chức. Người công dân trong tổ chức được định nghĩa là một khái niệm toàn cầu bao gồm tất cả các hành vi tích cực có liên quan đến tổ chức. Graham đã xác định được ba hình thức công dân chính: (1) sự phục tùng trong tổ chức, (2) lòng trung thành của tổ chức, và (3) sự tham gia của tổ chức.
Khái niệm này của OCB đã được xác nhận và sự tham gia của tổ chức đã được chia ra thành sự tham gia của xã hội, tham gia cá nhân và sự tham gia chức năng của Van Dyne, Graham và Dienesch (1994). OCB cung cấp phương tiện quản lý, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên của một đơn vị làm việc, làm tăng kết quả tập thể đạt được, làm giảm nhu cầu tổ chức cống hiến nguồn lực khan hiếm cho tổ chức, gia tăng nguồn lực cho năng suất; và cải thiện khả năng làm việc để thực hiện công việc của họ bằng cách dành thời gian cho 7 việc lập kế hoạch hiệu quả công việc nhằm giải quyết mọi vấn đề trong tổ chức (Podsakoff, MacKenzie, Moorman và Fetter, 2000). Vai trò OCB trong tổ chức được đánh giá làm tăng năng suất làm việc của nhân viên. Đó là sự giúp đỡ và hỗ trợ đồng nghiệp trong một tổ chức.
Chia sẻ kinh nghiệm làm việc với nhau trên tinh thần tự nguyện nhằm mang lại hiệu quả công việc. Các mô hình nghiên cứu phổ biến về OCB Năm STT Tác giả nghiên Các nhân tố cứu Hai nhân tố: - Hành vi tận tình (Altruism) 1 Smith, Organ và Near 1983 - Hành vi tuân thủ theo quy định (Generalized compliance) Năm nhân tố: - Hành vi tận tình (Altruism) - Hành vi lịch thiệp (Courtesy) 2 Organ 1988 - Hành vi cao thượng (sportsmanship) - Hành vi tận tâm (conscientiousness) - Hành vi phẩm hạnh nhân viên (civic virture). Ba nhân tố: - Hành vi phục tùng tổ chức (Organizational obedience) 3 Graham 1991 - Hành vi trung thành trong tổ chức (Organizational loyalty) - Hành vi tham gia của tổ chức(Organizational participation) 8 Năm STT Tác giả nghiên Các nhân tố cứu Hai nhân tố: - Hành vi công dân tổ chức hướng tới cá nhân (Organizational citizenship Williams và 4 (1991) behavior – individuals) Anderson - Hành vi công dân tổ chức hướng tới tổ chức (organizational citizenship behavior-organizational) Năm nhân tố: - Hành vi trung thành (Loyalty); hành vi phục tùng (Obedience) - Hành vi đóng góp mang tính xã hội Van Dye, Grham và 5 1994 (social participation) Dienesch - Hành vi đóng góp mang tính chức năng (functional participation) - Hành vi đóng góp mang tính cá nhân (advocacy participation) Bốn nhân tố: - Hành vi hỗ trợ giữa các cá nhân (interpersonal helping) - Hành vi chủ động (individual 6 Moorman và Blalely 1995 initiative) - Hành vi cần cù siêng năng (personel industry) - Hành vi ủng hộ chân thành (loyal boosterism) Hai nhân tố: - Hành vi tạo thuận lợi cho cá nhân Van Scotter và 7 1996 (Interpersonal facilitation) Motowidlo - Hành vi cống hiến trong công việc (Job dedication) Hai nhân tố: 8 Van Dyne và Lepine 1998 - Hành vi giúp đỡ (Helping) - Hành vi tiếng nói (Voice) 9 2. Hành vi tận tình (altruism) 2.
Khái niệm Smith, Organ, và Near (1983) đã xác định hành vi tận tình là hành vi tự nguyện, trong đó việc nhân viên hỗ trợ giúp đỡ đồng nghiệp để giải quyết một vấn đề của họ khi gặp khó khăn nhằm hoàn thành nhiệm vụ chung của tổ chức. Hành vi tận tình đề cập đến một thành viên giúp đỡ các thành viên khác của tổ chức trong công việc của họ. Nhưng vào năm 1988 Organ đã nhận định lại hành vi tận tình là sự quan tâm đồng nghiệp trong tổ chức, giúp những đồng nghiệp khi họ vắng mặt, hoặc giúp đỡ những đồng nghiệp có công việc nặng nhọc. Podsakoff và các cộng sự (2000) đã chứng minh rằng hành vi tận tình có liên quan đáng kể đến việc đánh giá hiệu quả công việc tích cực ảnh hưởng đến tổ chức.
Mối quan hệ giữa hành vi tận tình với OCB Trong tổ chức, hành vi tận tình là hành vi cá nhân mang tính tự nguyện trong việc dành thời gian để hỗ trợ đồng nghiệp. Từ các nghiên cứu Smith, Organ, và Near (1983); Organ (1988); Podsakoff, MacKenzie, Moorman và Fetter (1990) đã kiểm định hành vi tận tình có ảnh hưởng lớn đến hành vi công dân tổ chức bằng các kinh nghiệm cá nhân hỗ trợ giúp đỡ các đồng nghiệp, giúp đỡ những đồng nghiệp mới, đây được coi là hành vi gắn kết, củng cố mối quan hệ, giúp nâng cao hiệu quả trong tổ chức. Các hành vi: giúp những người khác khi vắng mặt; giúp những người khác có khối lượng công việc nặng nhọc (Smith, Organ, và Near, 1983); sẵn sàng dành thời gian để giúp đỡ những người khác khi họ gặp vấn đề liên quan đến công việc (MacKenzie, Podsakoff, và Fetter, 1991); đưa ra những định hướng những đồng nghiệp mới tiếp cận với công việc dễ dáng hơn cho dù điều đó không bắt buộc (Podsakoff, MacKenzie, Moorman, và Fetter, 1990); tình nguyện viên làm việc cho nhóm; giúp đỡ người khác với công việc của họ vì lợi ích của nhóm (Van Dyne và LePine, 1998). Hành vi tận tình là hành vi hướng đến các nhân viên khác (giao tiếp) và nhằm cải thiện môi trường làm việc (khuyến khích).
Hành vi tận tình có liên quan đến tất cả các mặt của OCB như mang tính tự nguyện, có tinh thần thân thiện, giúp đỡ đồng nghiệp. 10 Dựa kết quả các nghiên cứu trên, hành vi tận tình có mối quan hệ ảnh hưởng cùng chiều với OCB. + H1: Hành vi tận tình (Altruism) OCB 2. Hành vi lịch thiệp (courtesy) 2.
Khái niệm Organ (1988) khái niệm hành vi lịch thiệp là hành vi thực hiện các biện pháp để ngăn ngừa các vấn đề với đồng nghiệp khác, không lạm dụng quyền của người khác. Hành vi lịch thiệp bao gồm các hành vi tập trung vào việc ngăn ngừa các vấn đề và thực hiện các bước cần thiết để làm giảm tác động của vấn đề trong tương lai. Nói cách khác, hành vi lịch thiệp có nghĩa là một thành viên khuyến khích các đồng nghiệp khác khi họ bị mất phẩm giá và cảm thấy chán nản về sự phát triển nghề nghiệp của họ. Những nỗ lực nghiên cứu ban đầu đã cho thấy rằng những nhân viên có hành vi lịch thiệp sẽ làm giảm xung đột giữa các nhóm và do đó làm giảm thời gian dành cho các hoạt động quản lý xung đột (Podsakoff, MacKenzie, Moorman, và Fetter, 1990).