Đặt vấn đề và lý do chọn đề tài Cách mạng 4.0 đã và đang tạo nên những thay đổi trong thế giới mà con người đang sống. Đó là thời đại của “kỷ nguyên chuyển đổi công nghệ thông tin”, các thiết bị công nghệ tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của cuộc sống, gồm học tập và công việc. Những tác động của công nghệ đến khía cạnh giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là chủ đề được các nhà khoa học, nhà giáo dục rất quan tâm. Nổi bật là nhóm đề tài liên quan đến năng lực số của sinh viên.
Bàn về tầm quan trọng của năng lực số, “Khuyến nghị về các năng lực chủ chốt cho học tập suốt đời” (Hội đồng Liên Minh Châu Âu, 2018) đã xác định năng lực số là một trong tám năng lực chủ chốt cần thiết cho công dân để đạt được sự thỏa mãn cá nhân, một lối sống lành mạnh và bền vững. Bên cạnh các năng lực khác như: năng lực đọc, viết; năng lực đa ngôn ngữ, năng lực toán học, khoa học, công nghệ và kỹ thuật; năng lực cá nhân, xã hội và học hỏi, năng lực công dân, năng lực khởi nghiệp và năng lực nhận thức văn hóa và thể hiện. Bàn về xu thế toàn cầu hóa,“Báo cáo Tương lai nền Kinh tế số của Việt Nam” (Cameron, 2019) xác định một trong bảy xu thế chủ đạo là sự gia tăng về các kỹ năng số, dịch vụ số và nền kinh tế việc làm tự do. Nghĩa là nhu cầu về ngành dịch vụ và các sản phẩm, dịch vụ số tăng cao đồng nghĩa việc gia tăng đầu tư vào giáo dục đại học, trang bị kỹ năng số, kỹ năng khởi nghiệp và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam.
Xu hướng giảm dần các công việc có tính chất an toàn, cố định, lặp đi lặp lại; tăng lên nhu cầu sử dụng các nền tảng về lao động và sản phẩm để tạo ra thu nhập và dịch chuyển ngành sáng tạo hơn trong thị trường lao động. 2 Trong thời đại công nghệ số hiện nay, việc trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ về công nghệ cho mỗi cá nhân nói chung, và học sinh, sinh viên nói riêng là rất quan trọng, trong cả học tập lẫn công việc. Sinh viên thế hệ hiện tại có sự tiếp xúc mật thiết với công nghệ số ở mọi mặt cuộc sống. Sinh viên với khả năng tự điều chỉnh, tự nhận thức ngày càng cao đã đặt ra nhiều băn khoăn liệu rằng công nghệ số tác động đến học tập của họ như thế nào? Bởi lẽ, đối với sinh viên, thành tích học tập là mối quan tâm hàng đầu, đó là chỉ số đo lường mức độ thành công trong học tập cho bản thân và nhà trường.
Ngoài ra, đó là tiêu chí đánh giá của nhà tuyển dụng đối với năng lực sinh viên khi gia nhập thị trường lao động. Những nghiên cứu liên quan đến tác động công nghệ số đến học tập hay cho mục đích học học tập của sinh viên ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Hiện tại, những nghiên cứu nổi bật kể đến là, Trần Đức Hòa & Đỗ Văn Hùng, (2021) “Khung năng lực số cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số”. Hay Phạm Hương Diên & Phạm Thị Anh Thy, (2022) nghiên cứu đề tài “Đo lường năng lực kỹ thuật số của sinh viên: nghiên cứu trường hợp tại Thành phố Hồ Chí Minh”.
Còn nghiên cứu về mối quan hệ giữa năng lực số và kết quả học tập bậc đại học ở Việt Nam là xu hướng nghiên cứu mới. Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa năng lực số và kết quả học tập sẽ giúp các nhà giáo dục có thể tìm ra cách tăng cường sự hiệu quả trong việc giảng dạy và đào tạo, cũng như giúp sinh viên tự nhận ra và phát triển năng lực số của mình. Bên cạnh đó, nghiên cứu này còn có thể giúp các nhà tuyển dụng hiểu rõ hơn về sự quan trọng của năng lực số đối với thành công trong công việc và đưa ra quyết định tuyển dụng chính xác hơn. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng có thể giúp chính sách giáo dục của các quốc trên thế giới được thiết kế sao cho phù hợp với xu hướng phát triển của năng lực số trong thời đại số.
Đó là áp dụng các phương pháp giảng dạy mới có áp dụng công nghệ để nâng cao khả năng học tập của sinh viên. 3 Từ thực tế đó, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lực số và kết quả học tập của sinh viên không chỉ giúp cho giáo dục và đào tạo, mà còn có ảnh hưởng đến xã hội và kinh tế của một quốc gia. Tác giả quyết định chọn đề tài: “NĂNG LỰC SỐ VÀ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” để đánh giá tác động của việc sử dụng công nghệ thành thạo cho mục đích học tập của sinh viên kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc nhìn năng lực số và kết quả học tập. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2.
Nghiên cứu nước ngoài Cabero và cộng sự (2022) “Digital Competence of Higher Education Students as a Predictor of Academic Success” đã phân tích năng lực số của sinh viên ở giáo dục đại học, dựa trên hiệu suất học tập của họ (đã học lại hoặc chưa học lại), và dự đoán các yếu tố quan trọng để dự báo năng lực số của sinh viên. Nghiên cứu sử dụng mẫu gồm 17301 sinh viên từ Chile. Bảng câu hỏi gồm 30 mục, phân thành năm chiều động và tĩnh thông dựa trên công trình của Gutiérrez-Castillo (2013), Gutiérrez-Castillo & Cabero (2016) và Gutiérrez-Castillo và cộng sự (2017). Tác giả đã chia năng lực số thành 6 thành tố xoay quanh kiến thức công nghệ, khả năng xử lý thông tin, tư duy giải quyết vấn đề, giao tiếp và hợp tác, công dân số và sáng tạo và đổi mới.
Kết quả chỉ ra năng lực số được xem là nhân tố dự báo thành công học tập khi năng lực số là khác biệt giữa nhóm sinh viên học lại và không học lại một năm học, người không học lại thể hiện kỹ năng số tốt hơn so với nhóm còn lại. Những khía cạnh liên quan đến tư duy phản biện, sáng tạo và đổi mới của hai nhóm đều thấp hơn so với hiểu biết công nghệ và xử lý thông tin. Yu Zhao và cộng sự (2021) “Digital competence in higher education research: A systematic literature review” tổng hợp các nghiên cứu từ 2015 đến 2021 về chủ đề năng lực số trong giáo dục đại học. Bài lược khảo đưa ra cái nhìn tổng quan về năng lực số 4 trong bối cảnh giáo dục đại học dựa trên 33 bài nghiên cứu do Web of Science và Scopus công bố.
Có 5 chủ đề mà các nghiên cứu thực hiện gồm: 1) Khảo sát và đánh giá nhận thức và trình độ năng lực kỹ thuật số của người tham gia trong giáo dục đại học; 2) Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực số; 3) Nghiên cứu tác động của năng lực số đối với thành tích người tham gia, đặc biệt là sinh viên; 4) Nghiên cứu các phương pháp giáo dục liên quan đến năng lực số; 5) Nghiên cứu sự xác nhận của công cụ đo lường năng lực số như đo lường độ tin cậy của bảng câu hỏi DigCompEdu Check-in. Nghiên cứu này đề cập đến bốn nghiên cứu cùng chủ đề với nội dung khóa luận. Đó là đánh giá hiệu quả của năng lực số trên kết quả học tập của sinh viên He và Zhu (2017), He và cộng sự (2018) cũng như He và Li (2019) đã điều tra hiệu ứng của năng lực số và cách chúng tương tác đến việc học thông qua học tập không chính thức với công nghệ số (DIL). Kim và cộng sự (2019) xem xét năng lực số và sự sẵn sàng số của sinh viên đại học trong bối cảnh học tập trực tuyến để đạt được thành tích học tập.
Mehrvarz và cộng sự (2021) “The mediating role of digital informal learning in the relationship between students’ digital competence and their academic performance” nghiên cứu trên mẫu 319 sinh viên từ trường Đại học Shiraz ở Iran. Kết quả ủng hộ giả thuyết tác động tích cực của năng lực số đến kết quả học tập và thông qua học tập không chính thức với công nghệ số (DIL), tạo tác động lớn hơn. Vì thế, DIL có vai trò tích cực giữa mối quan hệ năng lực số và kết quả học tập. Tác động tích cực của DIL trong mối quan hệ này, đã gợi ý để cải thiện kết quả học tập của sinh viên, nhà giáo dục và nhà thiết kế chương trình đào tạo nên xem xét cả năng lực số và học tập trực tuyến tự do của họ.
Nghiên cứu tiếp cận năng lực số bằng khung năng lực số của Calvani và cộng sự (2012), tiếp cận DIL bằng nghiên cứu của He & Li, 2019, và kết quả học tập tiếp cận Yu và cộng sự (2010), đo lường bằng nhận thức của học sinh. Heidari và cộng sự (2021) “The role of digital informal learning in the relationship between students’ digital competence and academic engagement during the 5 COVID ‐19 pandemic” mô tả tương quan và dữ liệu, phân tích SEM trên mẫu nghiên cứu gồm 308 sinh viên học tại trường Đại học Shiraz, Iran. Nghiên cứu đưa ra hàm ý rằng cơ sở giáo dục muốn đóng vai trò chủ chốt trong việc cải thiện sự tham gia học tập của sinh viên trong bối cảnh số, họ nên chú ý hơn đến năng lực số của học sinh và cung cấp cho sinh viên các nền tảng học tập trực tuyến tự do hiệu quả và dễ sử dụng để tăng cường sự tham gia học tập của họ. Nghiên cứu tiếp cận năng lực số bằng khung năng lực số của Calvani và cộng sự (2012) và bảng hỏi của He &Zhu (2017), tiếp cận DIL bằng nghiên cứu của He & Li, 2019, và đo lường sự hứng thú học tập của sinh viên bằng công cụ đo lường sự hứng thú của lao động (Schaudeli và cộng sự, 2006).
He và cộng sự (2020) “Exploring students’ digital informal learning: the roles of digital competence and DTPB factors” xem xét mối quan hệ học tập không chính thức của người học và năng lực số, tác giả tích hợp năng lực số vào mô hình phân tách lý thuyết hành vi dự đoán (DTPB) và kiểm tra mô hình bằng dữ liệu khảo sát sinh viên đại học ở Bỉ. Tác giả đã khám phá các khía cạnh khác nhau của hành vi học tập không chính thức của họ, bao gồm học tập nhận thức, siêu nhận thức, xã hội và động lực học tập.