Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Rủi ro Theo Vanerssa Manceron (2013), thuật ngữ rủi ro (RR) xuất hiện đầu tiên ở Ý vào thế kỷ thứ XIV để chỉ những trở ngại và hiểm hoạ trên biển. Đến thế kỷ XX, RR trở thành một vấn đề của xã hội đương đại và được nhiều ngành, lĩnh vực quan tâm nghiên cứu.
Trên thực tế, RR chủ yếu được nghiên cứu trong khu vực tư, ở một số lĩnh vực như kinh tế, bảo hiểm, ngân hàng, du lịch… và có hai cách hiểu như sau: Trường phái truyền thống quan niệm về RR theo hướng tiêu cực cho rằng, RR là khái niệm để chỉ những thiệt hại, tổn thất bất ngờ xảy ra ngoài dự kiến. (2010) đưa ra quan niệm RR là “điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”. (1998), RR là “những bất trắc ngoài ý muốn, xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp”. Như vậy, “RR là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người” (Huân, N.
Theo quan điểm của trường phái trung hoà, RR là xác suất tác động đến mục tiêu không chỉ gắn liền với tổn thất, thiệt hại mà còn mở ra khả năng mang đến những thành công. và cộng sự (2009) định nghĩa RR là “tình huống của thế giới khách quan trong đó tồn tại khả năng xảy ra một sự sai lệch bất lợi so với kết quả được dự tính hay mong chờ” còn tác giả Vân, Đ. (2013) đưa ra khái niệm RR là “sự bất trắc có thể đo lường được, nó có thể tạo ra những tổn thất, thiệt hại hoặc làm mất đi những cơ hội sinh lời nhưng cũng có thể đưa đến những lợi ích cơ hội trong kinh doanh”. Như vậy, theo quan điểm của trường phái trung hoà, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được.
Rủi ro có tính hai mặt: vừa tích cực, vừa tiêu cực. Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mất mát, nguy hiểm, … Nhưng chính rủi ro có thể mang đến cho con người những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, đo lường rủi ro, ứng phó và kiểm soát rủi ro, người ta không chỉ tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, né tránh mà còn có thể “lật ngược tình thế”, biến thủ thành công, biến bại thành thắng, biến thách thức thành những cơ hội, mang lại kết quả tốt đẹp trong tương lai. 13 Tóm lại, ở những góc độ tiếp cận khác nhau, RR được định nghĩa khác nhau.
Đã có rất nhiều khái niệm về RR được đưa ra, tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, nhóm nghiên cứu thống nhất sử dụng khái niệm sau: “Rủi ro là ảnh hưởng của các yếu tố không chắc chắn đến mục tiêu của tổ chức”. Trong đó, tác động là một sự sai lệch so với dự kiến, tác động có thể tích cực hoặc tiêu cực; mục tiêu có thể có những khía cạnh khác nhau (như tài chính, sức khoẻ, an toàn và môi trường) và có thể áp dụng ở các cấp khác nhau (như chiến lược, toàn bộ tổ chức, dự án, sản phẩm và quá trình); sự không chắc chắn là tình trạng, thậm chí là một phần, thiếu hụt thông tin liên quan tới việc hiểu hoặc nhận thức về một sự kiện, hệ quả của sự kiện đó hoặc khả năng xảy ra của nó (ISO 31000:2018). Quản trị rủi ro Quản trị rủi ro đã được thực hiện một cách không chính thức từ thuở ban đầu của xã hội loài người. Người tiền sử tụ tập với nhau thành những bộ lạc để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, chia sẻ trách nhiệm và chống lại những bất trắc trong cuộc sống.
Giai đoạn đánh dấu sự ra đời của quản trị rủi ro hiện đại cả về học thuật lẫn thực tiễn là giai đoạn 1955 - 1964 (theo Snyder, 1991). Khi đó quản trị rủi ro chính thức mới có được một sự chấp nhận rộng rãi đối với cả những nhà thực hành lẫn những nhà nghiên cứu. Cho đến nay, chưa có khái niệm thống nhất về quản trị rủi ro (QTRR). Có nhiều trường phái nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm về QTRR rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn, trái ngược nhau.
Trong quá khứ, nhiều tác giả cho rằng: QTRR chỉ đơn thuần là mua bảo hiểm, tức là chuyển một phần gánh nặng rủi ro có thể gặp phải sang cho các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Những người theo trường phái này giới hạn, chỉ quản trị những rủi ro “thuần túy”, “những rủi ro có thể phân tán”, “những rủi ro có thể mua bảo hiểm”. Nhóm người theo trường phái này đã định nghĩa: “QTRR là quá trình xác định các rủi ro và tìm cách quản lý nhằm hạn chế các thiệt hại đối với tổ chức”. Theo quan điểm hiện đại, có thể tiếp cận khái niệm QTRR theo hai góc độ “quản trị” và “rủi ro”.
Trong đó, quản trị là quá trình hoạch định mục tiêu, chiến lược, kế hoạch mà đối tượng quản lý cần đạt được trong một giai đoạn nhất định, tổ chức thực hiện các chiến lược, các mục tiêu đó, quản trị con người và kiểm tra các hoạt động trong tổ chức một cách có hệ thống nhằm hoàn thành các mục tiêu đề ra. Còn rủi ro là những bất trắc có thể đo lường được. QTRR là tập hợp các hoạt động hoạch định chiến lược và kế hoạch quản lý rủi ro, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động của tổ chức liên quan đến quản lý rủi ro sao 14 cho đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Ủng hộ quan điểm này, T.
Al-Thani (2011) cho rằng, QTRR là một quy trình cho phép xác định, đánh giá, hoạch định và quản lý các loại rủi ro. Do đó, QTRR hướng đến 3 mục tiêu chính: phải xác định được loại rủi ro, thực hiện phân tích một cách khách quan các loại rủi ro đặc thù, ứng phó với những loại rủi ro đó một cách phù hợp, hiệu quả. Cũng theo quan điểm “quản trị rủi ro toàn diện”, khi nghiên cứu công cụ và kỹ thuật quản trị rủi ro doanh nghiệp, Robert J. Chapman (2011) cho rằng, QTRR doanh nghiệp (ERM) là 1 quy trình tích hợp và toàn diện để quản trị mọi loại rủi ro trong toàn doanh nghiệp nhằm tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp đó.
Ủng hộ quan điểm “quản trị rủi ro toàn diện”, tác giả Đoàn Thị Hồng Vân và cộng sự (2013) định nghĩa: “Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro”. Kết hợp với quan điểm mới về RR, nhóm tác giả đã bổ sung và hoàn chỉnh khái niệm: “Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, liên tục và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công”. Trong phạm vi bài viết này, nhóm nghiên cứu thống nhất sử dụng khái niệm về QTRR như trên. Đối với mọi tổ chức, QTRR là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
Thông thường, ở bất kể lĩnh vực nào, tổ chức luôn cần có tầm nhìn rõ ràng về các mức độ RR đối với tổ chức mình và cố gắng thiết lập một phạm vi chống chịu để có thể xử lý RR tốt hơn và thực hiện các biện pháp phù hợp khi cần thiết. Đây được coi là một trong những tiêu chuẩn chiến lược của tổ chức. QTRR hiệu quả không phải là loại bỏ RR, mà là lựa chọn cách thức tiếp nhận RR, thích ứng với RR, giảm thiểu tác động của RR hoặc biến những RR thành cơ hội để thành công. Cơ sở giáo dục đại học Theo khoản 1, điều 4, Luật số 34/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học thì cơ sở giáo dục đại học được định nghĩa là “cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng”.
15 Khoản 4 quy định cơ sở giáo dục đại học có tư cách pháp nhân, bao gồm đại học, trường đại học và cơ sở giáo dục đại học có tên gọi khác phù hợp với quy định của pháp luật. Đại học quốc gia, đại học vùng là đại học thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia, nhiệm vụ phát triển vùng của đất nước. Năng lực quản trị rủi ro của cơ sở giáo dục đại học Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, “năng lực là khả năng để thực hiện một hoạt động nào đó” (Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, 2013). Năng lực QTRR: Hiện nay, vẫn chưa có khái niệm cụ thể, thống nhất về năng lực QTRR.
Tuy nhiên, năng lực QTRR được hiểu là khả năng điều hành, giải quyết các RR. Qua quá trình tìm hiểu, nhóm nghiên cứu khái quát khái niệm về năng lực QTRR như sau: Năng lực QTRR là tổng hoà các nguồn lực nhằm tạo ra khả năng và điều kiện để các chủ thể có thể thực hiện việc hạn chế, kiểm soát các RR có thể xảy ra. Từ đó, nhóm nghiên cứu đi đến thống nhất khái niệm về năng lực QTRR của cơ sở giáo dục đại học như sau: Năng lực QTRR của cơ sở GDĐH là tổng hoà các nguồn lực của cơ sở giáo dục đại học nhằm tạo ra khả năng và điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học thực hiện các hoạt động QTRR nhằm kiểm soát rủi ro, hạn chế các tổn thất có thể xảy ra đối với cơ sở giáo dục đại học. Các loại rủi ro và nguy cơ rủi ro trong cơ sở giáo dục đại học 1.
Đặc điểm của các cơ sở giáo dục đại học Cơ sở giáo dục đại học là tổ chức có tư cách pháp nhân, nên nó mang đầy đủ các đặc trưng của loại hình tổ chức này: + Cơ sở giáo dục đại học là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, có tên gọi bằng tiếng Việt; tên gọi thể hiện rõ loại hình tổ chức của pháp nhân và phân biệt với các pháp nhân khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động. Pháp nhân phải sử dụng tên gọi của mình trong giao dịch dân sự.