Chương 1 – Tổng quan về nghiên cứu. Chương này cho thấy cơ sở hình thành đề tài và những vấn đề chung nhất của nghiên cứu: câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp và ý nghĩa đóng góp của nghiên cứu. Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Nội dung của chương 2 giới thiệu các lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu, nêu lên các khái niệm dùng trong nghiên cứu và tổng kết các nghiên cứu thực tiễn về mối quan hệ giữa môi trường kinh doanh, năng lực của nhà lãnh đạo và kết quả hoạt động kinh doanh để cho thấy khoảng trống nghiên cứu.
Trên cơ sở đó, trình bày các giả thuyết cần kiểm định của nghiên cứu cũng như đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp. Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu. Tập trung trình bày về thang đo, sự hiệu chỉnh và kiểm định các thang đo này cũng như thiết kế nghiên cứu: cách chọn mẫu và quá trình tiến hành thu thập thông tin. Đồng thời, chương này cũng tiến hành đánh giá sơ bộ thang đo.
Chương 4 – Kết quả nghiên cứu. Trình bày kết quả nghiên cứu định lượng, kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết trong nghiên cứu. Từ đó, đưa ra các so sánh, thảo luận cần thiết cho việc kiểm định các giả thuyết của nghiên cứu. Chương 5 – Kết luận và hàm ý quản trị.
Những kết luận chính về kết quả của nghiên cứu được thảo luận và nêu lên những đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn. Mặt khác, chương này cũng trình bày hàm ý quản trị cũng như những hạn chế và hướng tiếp theo cho các nghiên cứu tương lai. 11 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung của chương 2 sẽ đề cập đến tổng quan cơ sở lý thuyết về năng lực của nhà khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chương này cũng sẽ cho thấy khoảng trống nghiên cứu thông qua việc tóm lược các nghiên cứu trước, đồng thời đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và mô hình đề xuất.
LÝ THUYẾT VỀ KHỞI NGHIỆP KINH DOANH Lý thuyết về khởi nghiệp kinh doanh (entrepreneurship theory) đang thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu kinh tế và đang phát triển và mở rộng. Một trong những xu hướng mới trong lý thuyết kinh doanh hiện đại, được thảo luận rộng rãi trong khoa học kinh tế quốc tế, là nghiên cứu về hiện tượng doanh nhân xã hội. Lý thuyết về khởi nghiệp kinh doanh rất đa dạng, là do đây là một khái niệm phức tạp, được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau như quản lý các thay đổi, sáng tạo, quản lý nguồn tài nguyên, và từ nhiều ngành khác nhau như kinh tế học, xã hội học, tâm lý học với những nguyên tắc khác nhau (Low & MacMilan, 1988). Mục tiêu của các nghiên cứu về khởi nghiệp kinh doanh là: (1) Khảo sát quan hệ khởi nghiệp kinh doanh và những hành động cá nhân để khám phá cơ hội thị trường; (2) Khảo sát quan hệ khởi nghiệp kinh doanh và việc sáng tạo doanh nghiệp mới (Davidsson và cộng sự, 2001); (3) Tạo lý thuyết riêng cho khởi nghiệp kinh doanh và giải thích mọi hiện tượng liên quan đến khởi sự kinh doanh bằng chính bộ lý thuyết này (Shane và Venkataraman, 2000).
Dựa vào ba câu hỏi trên các nhà nghiên cứu phát triển và diễn dịch khái niệm này theo cách riêng mình. Các lý thuyết được nghiên cứu và phát triển theo thời gian, trong đó một số lý thuyết được công nhận nhiều như sau: Lý thuyết của Cantillon (1755) xem nhà khởi nghiệp như là một nhà sản xuất nhưng có thể chấp nhận rủi ro cao và làm cân bằng cung cầu cho nền kinh tế. Theo 12 trường phái tân cổ điển thì nhà khởi nghiệp như là những nhà tối ưu hóa, ví như chủ doanh nghiệp thuê lao động và vốn từ công nhân và chủ đất trong nền kinh tế không chắc chắn về nhu cầu sản phẩm. Marshall (1949) giải thích khởi nghiệp kinh doanh như là một điều kiện cân bằng của thị trường với giả định kiến thức, thông tin và cạnh tranh hoàn hảo, sự tồn tại của hàng hóa đồng nhất, dễ thâm nhập và rút khỏi thị trường.
Marshall (1949) cho rằng thị trường sẽ cân bằng khi có nhiều người tham gia vào thị trường sẽ tạo nên cạnh tranh hoàn hảo và xóa bỏ độc quyền. Lý thuyết của ông đề cập đến “những người vĩ đại” (great men) sẽ tạo cân bằng trong cung cầu hàng hóa, dịch vụ trong thị trường. Thuyết khởi nghiệp kinh doanh của Schultz (1975) lập luận rằng khởi nghiệp kinh doanh có liên quan chặt chẽ với các tình huống không cân bằng và cơ hội kinh doanh bắt đầu từ những tình huống này. Trong tình trạng không cân bằng, các tác nhân hoạt động tối ưu và có thể tái phân bổ các nguồn lực để đạt được mức hài lòng cao hơn.
Khởi nghiệp kinh doanh là khả năng sắp xếp và phân bổ và phát triển doanh nghiệp theo những định hướng tùy thuộc vào khả năng của nhà khởi nghiệp. Schultz lý luận rằng, trong trạng thái không cân bằng, các cá nhân nhận ra những cơ hội để gia tăng sự hài lòng nhưng quá trình phân bổ lại tài nguyên cần nhiều thời gian. Một sự phân bổ nguồn lực tốt có thể bắt đầu bằng việc thử nghiệm (thử và sai) hoặc đầu tư vào nguồn nhân lực. Trong khi Marshall (1949) tập trung vào điều kiện cần thiết để duy trì trạng thái cân bằng và Schultz (1975) chú trọng vào giải thích tiến bộ trong hệ thống tư bản bằng cách sử dụng sáng kiến, sáng tạo của chủ doanh nghiệp, Kirzner (1997) tiếp cận theo cách các doanh nhân tập trung vào việc trả lời câu hỏi liệu nền kinh tế thị trường có hoạt động hay không, nếu có thì đâu là quá trình dẫn nền kinh tế đến trạng thái cân bằng?, Kirzner lý luận rằng ban đầu nền kinh tế đang ở trạng thái không cân bằng và sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là “dấu hiệu” (alert) dẫn đến sự cân bằng.
Không giống như các lý thuyết theo trường phái Tân cổ điển, ông nhận ra rằng thị trường không phải lúc nào cũng rõ ràng, không có thông tin đầy đủ, định hướng và 13 thay đổi cần được khuyến kích để tạo sự thay đổi về thông tin và kiến thức. Theo Kirzner cải tiến trong sản xuất hoặc sự thay đổi về sở thích dẫn đến sự thay đổi trạng thái không cân bằng trên thị trường. Sự mất cân bằng có thể được tái lập bởi những người sản xuất và trao đổi, nhưng nhấn mạnh rằng trao đổi sẽ phát triển cơ hội và tiến bộ. Ông nhấn mạnh rằng tiến bộ kinh doanh không phụ thuộc vào một “người vĩ đại” mà phụ thuộc vào nhiều “người vĩ đại”, nhiều người tham gia vào thương trường.
Lợi nhuận từ đầu tư mạo hiểm có thể không lớn và trong một số trường hợp có thể bị phá sản trước khi đạt điểm hòa vốn. Vì có rất nhiều sự không chắc chắn trong môi trường kinh doanh và lợi nhuận luôn là vấn đề được quan tâm đầu tiên cho nên khởi nghiệp kinh doanh được xem như hành động mạo hiểm. Nhận dạng rủi ro và nhìn thấy cơ hội đòi hỏi năng lực đặc biệt của nhà khởi nghiệp kinh doanh. Theo Knight (1971), chức năng chính của doanh nhân là thừa nhận sự không chắc chắn liên quan đến sự kiện, do đó không để các tác nhân khác khác chống lại doanh nghiệp.
Knight nhận ra sự khác biệt giữa rủi ro và sự không chắc chắn và chức năng chính của doanh nhân là xử lý các tình huống độc nhất, không chắc chắn trong nền kinh tế. Knight cũng lập luận rằng các nhà khởi nghiệp là chủ của công ty, chịu trách nhiệm và thu lợi nhuận. Để thu được lợi nhuận, nhà khởi nghiệp thực hiện ba điều sau đây: (1) Khởi xướng các thay đổi hữu ích hoặc đổi mới; (2) thích nghi với những thay đổi trong môi trường kinh doanh; (3) lường trước những hậu quả liên quan đến điều kiện không chắc chắn của doanh nghiệp. Schumpeter (1989) xem khởi nghiệp kinh doanh là sự đổi mới và không bắt chước.
Người khởi nghiệp sáng tạo như là một nhà kinh doanh, một nhà lãnh đạo xã hội và không quan tâm nhiều đến lợi ích kinh tế và chỉ có niềm vui khi trở thành một nhà đổi mới hay người quan trọng trong xã hội của mình. Nhà khởi nghiệp không nhất thiết là người phát minh ra cách kết hợp mới có thể áp dụng trong sản xuất. Shane và Venkataraman (2000) cho rằng “khởi nghiệp kinh doanh liên quan đến mối quan hệ của hai hiện tượng: sự hiện diện của cơ hội sinh lợi và sự hiện diện của các cá nhân dám nghĩ dám làm. Còn Casson (2003) lập luận rằng: nhà khởi nghiệp là những cá nhân chuyên về ra quyết định, họ áp dụng thông tin về các sáng 14 chế để tạo ra sự kết hợp mới và cuối cùng là người quyết định xem kết hợp nào có lợi.
Khởi nghiệp kinh doanh được các quốc gia rất quan tâm bởi những thành công và lợi ích mà nó mang lại. Những câu chuyện thành công tại các quốc gia như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông,… trong thời gian gần đây mang lại lợi nhuận lớn, triển vọng phát triển cho nền kinh tế và đặc biệt là hệ sinh thái khởi nghiệp (Gilder, 1980). Lý thuyết của Schultz (1975), Kirzner (1997) và Schumpeter (1989) đều nhấn mạnh rằng doanh nhân xác định hoặc phát hiện ra cơ hội kinh doanh. Trong khi Schultz định nghĩa cơ hội nói chung, còn Schumpeter mô tả chi tiết hơn là những đổi mới, còn Schultz mô tả chi tiết hơn là sự sáng tạo giúp nền kinh tế, cơ hội phát sinh khi có thông tin và các cá nhân phản ứng với những cơ hội này bằng cách thay đổi hành vi và hành động khác nhau.
Nhận định của Knight (1971) và Kirzner (1997) không đề cập đến vấn đề trước khi khởi nghiệp mà chỉ cho rằng sau khi khởi nghiệp thì nhà khởi nghiệp được xem như là nhà quản lý. Bird (1995) cho rằng khởi sự kinh doanh là một quá trình đó là kết quả của nhiều sự kiện, của chuỗi hành động và chịu tác động của nhiều yếu tố hoàn cảnh. Theo Kelley và cộng sự (2011) khởi nghiệp kinh doanh gồm 4 giai đoạn sau: Giai đoạn 1: Giai đoạn tiềm năng khởi nghiệp kinh doanh.