CHƯƠNG 1 KHUNG NGHIÊN CỨU VÀ KINH NGHIỆM VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC TẠI CƠ QUAN NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Công chức nhà nước tại bộ phận văn phòng, ngân hàng trung ương 1. Khái niệm về công chức nhà nước tại bộ phận văn phòng ngân hàng trung ương Công chức là khái niệm được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Việc xác định ai là công chức được quyết định bởi hệ thống thể chế chính trị, hành chính, sự phát triển KT-XH, truyền thống văn hoá của mỗi quốc gia cho nên đến nay chưa có một quan niệm thống nhất về công chức.
Tuy nhiên, công chức ở các nước đều có những dấu hiệu chung như là công dân của quốc gia đó, được tuyển dụng thông qua thi tuyển, được bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Công chức là công dân, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. (Luật cán bộ, công chức năm 2008, điều 4, khoản 1) "Công chức" là cụm từ thường được nhắc đến trong bộ máy hành chính các cấp từ trung ương đến cơ sở, là mắt xích quan trọng trong nền hành chính quốc gia, gắn liền với sự hình thành và phát triển của nhà nước, không ngừng đổi mới và hoàn thiện qua các thời kỳ. 8 Dựa trên khái niệm trên thì công chức tại bộ phận văn phòng ngân hàng trung ương có thể được hiểu là công dân, được tuyển dụng, bổ nhiệm chức danh chuyên môn, nghiệp vụ tại bộ phận văn phòng ngân hàng trung ương, hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Phân loại công chức nhà nước tại bộ phận văn phòng ngân hàng trung ương - Công chức loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương: Là công chức hành chính có yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ cao nhất về một hoặc một số lĩnh vực trong các cơ quan, tổ chức hành chính từ cấp tỉnh trở lên, có trách nhiệm làm chỉ trì tham mưu, tổng hợp và hoạch định chính sách, chiến lược có tính vĩ mô theo ngành, lĩnh vực hoặc địa phương; tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện các chế độ chính sách; - Công chức loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; - Công chức loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; - Công chức loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và nhân viên. Vai trò của công chức nhà nước tại bộ phận văn phòng ngân hàng trung ương - Cán bộ, công chức NHNN đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế. Do vậy, cán bộ, công chức NHNN chính là lực lượng nòng cốt, luôn đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế. - Cán bộ, công chức NHNN là lực lượng nòng cốt trong việc hoạch định, thực hiện các chính sách tiền tệ tín dụng ngân hàng, giúp Chính phủ bình ổn giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, phát triển kinh tế theo mục tiêu đã định.
- Cán bộ, công chức NHNN là đội ngũ chủ yếu trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của các ngân hàng và hệ thống các tài chính tín dụng đảm bảo an toàn, 9 hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Năng lực công chức tại bộ phận văn phòng ngân hàng Trung ương 1. Khái niệm năng lực công chức nhà nước tại ngân hàng trung ương Theo định nghĩa trong Bách khoa toàn thư Việt Nam thì “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân.
Năng lực có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lí của con người, trước hết là của hệ thần kinh trung ương), song không phải là bẩm sinh, mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân”. Năng lực công chức chính là khả năng của một người để làm một việc gì đó, để xử lý một tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định. Nói cách khác năng lực công chức là khả năng sử dụng các tài sản, tiềm lực của con người như kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu cụ thể trong một điều kiện xác định. Thông thường người ta cho rằng năng lực gồm có các thành tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Năng lực công chức tại bộ phận văn phòng ngân hàng trung ương là một đặc tính cơ bản của cá nhân mà cần thiết của công việc để áp dụng vào thực trạng trong công việc của tất cả các lĩnh vực nhưng có sự cần thiết khác nhau. Năng lực được hiểu là các kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của công chức tại bộ phận văn phòng ngân hàng trung ương Đánh giá công chức theo quá trình thực thi công vụ Đánh giá công chức theo quá trình thực thi công vụ có thể được biểu hiện thông qua một số tiêu chí cơ bản như thời gian thực hiện công việc, cách thức thực hiện, quy trình thực hiện, những chuẩn mực về thái độ, hành vi khi thực hiện…. 10 Theo đó, đánh giá công chức theo quá trình thực thi công vụ tập trung vào sự tuân thủ chặt chẽ các quy định của cơ quan và luật pháp của Nhà nước gắn với cơ chế kiểm soát quy trình (trình tự, bước đi, hình thức thực hiện).
Chính sự ràng buộc quá lớn về cách làm sẽ khiến cho việc thực thi công vụ của công chức giống như một cỗ máy, tập trung vào tuân thủ thay vì đổi mới, linh hoạt và sáng tạo. Điều này dẫn tới hiện tượng công chức vẫn thực hiện đúng quy định nhưng kết quả không cao hoặc có thể thực hiện với hiệu quả tốt hơn, thời gian nhanh hơn nhưng nguyên tắc, quy trình, thủ tục hành chính bắt buộc phải như vậy nên không thể xử lý khác (sự cứng nhắc của các quy định). Đánh giá công chức theo kết quả thực thi công vụ Đánh giá công chức là việc cơ quan, đơn vị quản lý, sử dụng công chức tiến hành đánh giá, phân loại, làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của từng công chức. Đánh giá cán bộ, công chức là việc làm khó, rất nhạy cảm vì nó ảnh hưởng đến tất cả các khâu khác trong công tác cán bộ.
Kết quả đánh giá công chức là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chính sách đối với công chức, cũng như giúp công chức phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, góp phần nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và hiệu quả công tác chuyên môn của cán bộ, công chức tại cơ quan, đơn vị. Đây là khâu quan trọng, nếu cơ quan quản lý, sử dụng đánh giá sai sẽ dẫn tới dùng người không đúng, dùng người năng lực kém, bỏ sót người tài, gây ảnh hưởng không tốt trong nội bộ cơ quan, đơn vị, làm giảm lòng tin đối với toàn công chức. Đánh giá công chức về kinh nghiệm công tác Kinh nghiệm công tác của công chức là những vốn kiến thức thực tế mà công chức tích lũy được trong thực tiễn công tác. Kinh nghiệm là kết quả được hình thành trong hoạt động thực tiễn.
Chính kinh nghiệm đã góp phần vào việc hình thành năng lực thực tiễn và làm tăng hiệu quả công vụ mà công chức đẩm nhận. Kinh nghiệm phụ thuộc vào thời gian công tác của các công chức nói chung và thời gian công tác của một công việc cụ thể nào đó nói riêng của công chức. Các tiêu chí cấu thành năng lực công chức nhà nước tại bộ phận văn phòng ngân hàng trung ương Nhóm tiêu chí đánh giá kiến thức Kiến thức về quản lý nhà nước về lĩnh vực ngân hàng: trình độ quản lý nhà nước về lĩnh vực ngân hàng là mức độ kiến thức đạt được trong hệ thống tri thức về lĩnh vực quản lý nhà nước về lĩnh vực ngân hàng gồm những vấn đề về lĩnh vực ngân hàng và pháp luật về lĩnh vực ngân hàng, các công cụ, kỹ năng, phương pháp điều hành, quản lý nhà nước về lĩnh vực ngân hàng. Yêu cầu về trình độ quản lý nhà nước về lĩnh vực ngân hàng đối với viên chức là nắm vững chính sách, pháp luật của nhà nước về lĩnh vực ngân hàng để tổ chức thực hiện có hiệu quả theo đúng chức năng, nhiệm vụ.
Kiến thức về công tác văn phòng tại ngân hàng nhà nước: - Trình độ văn hoá: Trình độ văn hóa của viên chức là mức độ tri thức của viên chức đạt được thông qua hệ thống giáo dục. Hiện nay ở nước ta trình độ văn hóa được chia thành các cấp độ: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Trình độ văn hóa là nền tảng cho việc nhận thức, tiếp thu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của NN, là tiền đề tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật vào trong cuộc sống.