Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC TRONG TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm liên quan Ở mỗi quốc gia khác nhau thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức là hoàn toàn khác nhau. Có những quy định khác nhau về cán bộ công chức ở các quốc gia. Cụ thể như sau: Tại Lào, công chức nhà nước được định nghĩa theo Luật cán bộ công chức số 74/QH như sau: “Công dân Lào được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước”.[27] Tại Lào, cán bộ, công chức là công dân Lào trong biên chế bao gồm: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan, tổ chức chính trị, cơ quan/tổ chức ở Trung ương, thủ đô, ở tỉnh, ở huyện; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, tổ chức chính trị, cơ quan/tổ chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên làm việc ttrong các cơ quan nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước, tổ chức chính trị, cơ quan/tổ chức; Thẩm phán Tòa án nhân dân, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc 10 trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực, Hội động nhân dân, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu cơ quan/tổ chức thuộc huyện, thị xã; Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp huyện.
[27] Như vậy, theo quy định pháp luật hiện hành của nước CHDCND Lào: “Cán bộ, công chức đều dùng để chỉ những người là công dân Lào trong biên chế của các cơ quan nhà nước nói chung. Và tiêu chí để phân định giữa cán bộ và công chức là dựa vào cơ chế hình thành cán bộ được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ, còn công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh”. Cán bộ “Cán bộ là công dân Lào, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, cơ quan/tổ chức ở Trung ương, ở Thủ đô, ở tỉnh, ở huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Công chức “Công chức là công dân Lào được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, cơ quan/tổ chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, cơ quan/tổ chức (sau đây goi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), 11 trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Chất lượng cán bộ, công chức “Chất lượng cán bộ công chức (CBCC) là khái niệm tổng hợp về những người thuộc CBCC được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của CBCC, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn công việc,…), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động CBCC của CBCC và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của CBCC”. Theo quan điểm này thì chất lượng CBCC được đánh giá thông qua các tiêu chí: trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng (thuộc trí lực) và sức khỏe (thuộc thể lực). Các tiêu chí này được định lượng hóa bằng các cấp bậc học, các bậc đào tạo chuyên môn mà có và có thể đo lường được tương đối dễ dàng. “Chất lượng CBCC được đánh giá qua hai tiêu chí: Năng lực hoạt động của CBCC và phẩm chất đạo đức của CBCC đó.
Năng lực hoạt động có được thông qua đào tạo, qua huấn luyện, qua thời gian làm việc được đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và kỹ năng giải quyết công việc. Năng lực này là kết quả giáo dục đào tạo của cả cộng đồng chứ không riêng một tổ chức nào. Theo quan điểm này, năng lực của CBCC thuộc về chuyên môn của CBCC. Việc xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực CBCC dễ dàng hơn phẩm chất CBCC.
Phẩm chất đạo đức CBCC được biểu hiện qua thái độ, ý thức, phong cách làm việc, quan hệ CBCC, văn hóa tổ chức. và được hiểu là tâm lực CBCC. Tiêu chí này mang tính nhạy cảm, khó đo lường bởi chịu chi 12 phối bởi tâm lý bên trong. Thực tế chưa có con số thống kê chính thống về chất lượng CBCC khía cạnh phẩm chất đạo đức CBCC”.
[9] "Chất lượng CBCC được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất. Tác giả sử dụng xem xét trên các mặt chứ không coi đó là các tiêu chí bắt buộc. Bên cạnh đó còn nhiều mặt chưa được hoặc không được xét đến. Như vậy có thể nhận thấy các hướng nghiên cứu về chất lượng CBCC còn chưa được thống nhất.
Các tiêu chí đưa ra chủ yếu là một số tiêu chí định lượng như: trình độ, sức khỏe, năng lực”. [7] Với các cách hiểu khác nhau về chất lượng CBCC, nhưng nhìn chung lại thì chất lượng CBCC là một khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất. Theo quan điểm của tác giả, chất lượng CBCC được cấu thành bởi 3 yếu tố đó là: Thể lực; Trí lực và tâm lực. Cụ thể: Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể.
Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con người. Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội. Trí lực được xác định bởi tri thức chung về khoa học, trình độ chuyên môn, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng tư duy, sáng tạo của mỗi con người. Trí lực thực tế là một hệ thống thông tin đã được xử lý và lưu giữ lại trong bộ nhớ của mỗi cá nhân con người, được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau.
Nó được hình thành và phát triển thông qua giáo dục đào tạo cũng như quá trình CBCC sản xuất. Tâm lực (đạo đức và phẩm chất) là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã hội của CBCC bao gồm toàn bộ những phẩm chất, tập quán phong cách, thói quen và đạo đức…, của CBCC. Trong luận văn này, chất lượng CBCC là thuật ngữ thể hiện một tập hợp các đánh giá về thể lực, trí lực và tâm lực của CBCC trong tổ chức. Cụ 13 thể, các tiêu chí thể hiện năng lực làm việc, kỹ năng thực hiện công việc phải có trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, kỹ năng được trau dồi, đào tạo.
Đó chính là trí lực của CBCC. Nhưng nếu có trí lực mà CBCC không đủ sức khỏe, thể chất yếu thì tác động tiêu cực đến trí lực. Thái độ trong công việc chính là tâm lực của CBCC. Đó là tinh thần làm việc, khả năng chịu áp lực công việc, trạng thái cảm xúc của CBCC được biểu hiện thông qua hành vi.
Thái độ trong công việc cũng là thể hiện tình trạng sức khỏe của CBCC. Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức Đối với bản thân CBCC, nâng cao chất lượng CBCC là gia tăng về giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí lực, tâm lực cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho CBCC có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao thể lực: Sức khỏe CBCC được đề cập đến ảnh hưởng rất lớn đến trí lực và tâm lực của CBCC. Không có sức khỏe thì rất khó để hoàn thành công việc với chất lượng tốt.
Nâng cao trí lực: (Thông qua: nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc, kinh nghiệm làm việc. Đây là yếu tố căn bản quyết định đến sự thay đổi về căn bản năng lực làm việc của CBCC. Đối với tổ chức: việc nâng cao chất lượng CBCC chỉ việc thực hiện một số hoạt động nào đó dẫn đến sự thay đổi về chất lượng CBCC tăng lên so với chất lượng CBCC hiện có. Đó là sự tăng cường sức mạnh, kĩ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất, năng lực tinh thần của lực lượng CBCC đạt đến trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ đặt ra trong những giai đoạn phát triển của một tổ chức.
[17] Trong việc nâng cao chất lượng CBCC, cần nâng cao chất lượng từng thành tố cấu thành trong chất lượng CBCC, bao gồm: Nâng cao tâm lực: thông qua nâng cao cải thiện tác phong, thái độ, ý thức làm việc,… và các phẩm chất của CBCC việc ý thức, tác phong làm việc chưa cao, vi phạm kỉ luật CBCC, không có ý thức bảo vệ tài sản chung, 14 tham ô, tham nhũng, trốn việc, làm việc riêng trong thời gian CBCC,… ảnh hưởng không nhỏ đến đóng góp của CBCC cho tổ chức.