Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của tỉnh Thái Nguyên trong thu hút đầu tư giai đoạn 2006 - 2012 Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư của tỉnh Thái Nguyên. 7 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1. Khái niệm và các nhân tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1.
Cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Đã có rất nhiều học giả nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Có thể chia lý thuyết cạnh tranh và NLCT thành hai trường phái chủ yếu: Trường phái cổ điển và Trường phái hiện đại. Trường phái cổ điển, đại diện tiêu biểu là A.Smit, với tư tưởng cạnh tranh và tư do kinh tế đã hướng vào mục tiêu phản đối sự can thiệp của Nhà nước.
Theo Adam Smith, cạnh tranh, đặc biệt là tự do cạnh tranh có thể phối hợp một cách nhịp nhàng các hoạt động kinh tế và có lợi cho xã hội. Trong đó, cạnh tranh khơi dậy nỗ lực của con người như nâng cao năng lực lao động, điều tiết các yếu tố sản xuất hợp lý, phát triển kĩ thuật… và làm cho của cải quốc gia tăng lên. Bổ sung quan điểm trên, John Stuart Mill đề cao quyền tự do kinh doanh và phản đối sự can thiệp của chính phủ đối với cá nhân. Còn theo Karl Marx, cạnh tranh trước hết phải dựa trên phân công lao động xã hội và chủ thể lợi ích đa nguyên.
Trong đó, cạnh tranh giữa những người sản xuất diễn ra trên ba bình diện: cạnh tranh giá thành thông qua nâng cao năng suất lao động giữa các nhà tư bản nhằm thu hút được giá trị thặng dư siêu ngạch; cạnh tranh chất lượng thông qua nâng cao giá 8 trị sử dụng của hàng hóa; cạnh tranh giữa các ngành thông qua khả năng luân chuyển tư bản để từ đó các nhà tư bản chia nhau giá trị thặng dư. Trường phái hiện đại, tiêu biểu là lý luận sáng tạo và cạnh tranh ở trạng thái động của J.Schumpeter, diễn giải về NLCT đối với những nền kinh tế dựa vào thông tin và tri thức. Các hình thức kết hợp các yếu tố cạnh tranh trong quá trình cạnh tranh phải tận dụng những tiến bộ và sáng tạo công nghệ, nhấn mạnh vai trò của công ty, tài năng của doanh nhân được thừa nhận và cần tạo môi trường hoạt động để họ phát huy tính sáng tạo, thể hiện tài năng. Lý thuyết sáng tạo của J.Schumpeter chỉ ra sáng tạo trên ba bình diện: Sáng tạo công nghệ và sử dụng kỹ thuật mới; Sáng tạo thể chế khai thác thị trường và kiểm soát nguồn cung cấp nguyên liệu mới; Sáng tạo quản lý, áp dụng hình thức tổ chức và quản lý DN mới.
Nghiên cứu về cạnh tranh của Michael Porter toàn diện từ cấp độ DN, ngành cho đến quốc gia, bao trùm cả lĩnh vực sản xuất và dịch vụ. Cạnh tranh được xác định là nguồn gốc của tiến bộ kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào và là nền tảng cho những công dân có năng suất cao. Theo ông, chỉ có các DN mới có thể tạo ra của cải chứ không phải chính phủ. Theo lý thuyết Lợi thế cạnh tranh của Michael E.
Porter1, cạnh tranh cần dựa trên lợi thế cạnh tranh, bao gồm tổ chức ngành, trình độ nhân lực, khoa học công nghệ, khả năng sáng tạo và tận dụng các cơ hội. Các chủ thể cạnh tranh dù là doanh nghiệp hay chính phủ đều phải đưa ra chiến lược cạnh tranh phù hợp, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao năng lực cạnh tranh (xem Sơ đồ 1.Porter là giáo sư của Đại học Harvard, Mỹ, nhà nghiên cứu hàng đầu về Năng lực cạnh tranh 9 Sơ đồ 1. Mô hình Kim cƣơng của M.E Porter [45] Từ các lý thuyết về cạnh tranh n ê u t r ê n , c ó t h ể thấy cạnh tranh là một phạm trù rất rộng và mang tính lịch sử. Cạnh tranh xuất hiện và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hoá.
Cạnh tranh được nâng cấp ở mức độ khái quát hơn là quá trình đổi mới và sáng tạo không ngừng. Cạnh tranh tồn tại từ cấp độ vi mô đến vĩ mô và bao trùm mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội. Với nội hàm rộng lớn như vậy nên trên những giác độ nghiên cứu khác nhau đã có những khái niệm về cạnh tranh khác nhau. Luận văn này chỉ đề cập khái niệm cạnh tranh kinh tế, và nó được hiểu là “sự ganh đua giữa các chủ thể tham gia thị trường nhằm giành điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để tối đa hóa lợi ích của chính họ” [11].
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là tất yếu, nó gắn liền với sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Xét về bản chất, cạnh tranh luôn được xem xét trong trạng thái động và ràng buộc trong mối quan hệ so sánh tương đối giữa các đối thủ cạnh tranh có chức năng giống nhau. Mục đích cuối cùng của các chủ thể trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi 10 nhuận, đối với một địa phương hay quốc gia là tạo việc làm và thu nhập cao hơn.
Để đạt được mục đích cơ bản cuối cùng ấy, cuộc ganh đua giữa các chủ thể phải tạo ra được những điều kiện, cơ hội tốt nhất nhằm mở rộng thị trường, hợp lý hóa sản xuất (đối với các ngành, DN) hay tăng cường thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh (đối với các quốc gia, địa phương). Cạnh tranh bao hàm một số đặc trưng cơ bản như sau: Thứ nhất, cạnh tranh mang bản chất của mối quan hệ có cùng mục đích giữa các chủ thể với nhau, là một quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể và các chủ thể có cùng mục tiêu; Thứ hai, các chủ thể cạnh tranh đều phải tuân thủ những ràng buộc chung; Thứ ba, cách thức và công cụ tham gia cạnh tranh rất đa dạng; Thứ tư, cạnh tranh diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc. Năng lực cạnh tranh Để đánh giá mức độ cạnh tranh giữa các chủ thể, người ta sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau, như “Năng lực cạnh tranh” (Competitiveness), “Sức cạnh tranh” (Competitive Edge), “Khả năng cạnh tranh” (Competitive Capacity), “Lợi thế cạnh tranh” (Competitive Advantage) và “Tính cạnh tranh” (Competitivity). Những thuật ngữ này được sử dụng khá phổ biến và đến nay vẫn chưa có sự thống nhất.
Trên thực tế, người ta vẫn có thể sử dụng các thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh”, “Sức cạnh tranh” và “Khả năng cạnh tranh” như những từ đồng nghĩa. Năng lực cạnh tranh là khái niệm tổng hợp được xây dựng trên cơ sở kết nối và tổ hợp hệ thống nhiều yếu tố cả bên trong và bên ngoài ở các cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp DN với tư cách là những thực thể độc lập. Theo định nghĩa của Đại từ điển tiếng Việt, “Năng lực” là: (1) những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì; (2) khả năng đủ để thực hiện tốt một công 11 việc. Do vậy có thể hiểu, NLCT là khả năng giành thắng lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh (cá nhân hay tổ chức, DN hay quốc gia) trong việc thực hiện cùng mục tiêu nào đó, mục tiêu ấy chính là hiệu quả cao và phát triển bền vững [74].
Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh là tập hợp các thể chế, chính sách và các yếu tố tác động đến năng suất của chủ thể tham gia cạnh tranh. Đây là nhân tố đảm bảo thu nhập hay sự bền vững, xác định tăng trưởng dài hạn của chủ thể đó [86]. Trong môi trường cạnh tranh kinh tế, từng chủ thể thể hiện vị thế của mình so với các chủ thể khác. Vị thế đó dựa trên những ưu thế nhất định, trong đó bao gồm những ưu thế về các yếu tố sản xuất cơ bản và những ưu thế do chính chủ thể đó sáng tạo ra.
Năng lực cạnh tranh phản ánh vị thế cạnh tranh, điều kiện để các chủ thể tham gia vào hoạt động cạnh tranh: Chủ thể có năng lực cạnh tranh cao sẽ có lợi thế và biết tạo ra lợi thế để thu được lợi nhuận cao hơn. Để xác định năng lực cạnh tranh của một chủ thể (Quốc gia, địa phương, doanh nghiệp…), người ta có thể chọn ra một số tiêu thức “tĩnh”, chính là các ưu thế của các chủ thể. Kế thừa những quan niệm trên, luận văn đưa ra khái niệm NLCT như sau: Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh thông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục nhằm đạt được mục tiêu với hiệu quả cao và bền vững. Hiện nay, quá trình cạnh tranh nói chung đã trở thành một hệ thống gồm nhiều cấp độ, bao gồm năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, năng lực cạnh tranh ngành, doanh nghiệp và sản phẩm… 1.
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Xu hướng phi tập trung hoá đang phát triển phổ biến trong quản lý kinh tế ở nhiều nước. Phi tập trung hoá là sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm, thẩm quyền về quản lý kinh tế của trung ương cho chính quyền 12 địa phương. Do đó, trong phạm vi một quốc gia cũng xuất hiện sự ganh đua giữa các vùng hay cấp địa phương, được gọi là cạnh tranh vùng hay địa phương mà ở Việt Nam đang tồn tại một cấp độ cạnh tranh đặc thù là cạnh tranh cấp tỉnh. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia, mọi địa phương.
Để thực hiện mục tiêu ấy, mỗi quốc gia, địa phương sẽ có những chính sách và bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Tuy nhiên, bất kỳ quốc gia, địa phương nào cũng phải tìm lời giải đáp cho vấn đề nguồn lực cho đầu tư phát triển ở đâu và cách thức huy động các nguồn lực ấy như thế nào. Tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư và phát triển DN là lời giải đáp của mỗi chính phủ, chính quyền các địa phương.