Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thời gian tới. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHUYÊN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1. Lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1.
Cơ cấu kinh tế Khái niệm “cơ cấu” theo triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ “cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống” [5]. Nó biểu hiện mối quan hệ thống nhất giữa bộ phận và toàn thể. Theo cách tiếp cận hệ thống, nền kinh tế cũng bao gồm nhiều bộ phận hợp thành. Sự vận động và phát triển của nền kinh tế theo thời gian hàm chứa sự thay đổi bản thân các bộ phận đó.
Nền kinh tế là một hệ thống phức tạp, được cấu thành bởi nhiều bộ phận khác nhau. Các bộ phận đó có thể là các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, gồm: đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật; các khâu trong vòng tuần hoàn của tái sản xuất xã hội, gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng; các ngành sản xuất của một nền kinh tế, gồm: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Giữa chúng luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau trong quá trình vận động và phát triển. Sự vận động và phát triển của nền kinh tế còn chứa đựng sự thay đổi của chính bản thân các bộ phận và cách thức quan hệ giữa chúng với nhau trong mỗi thời điểm và trong mỗi điều kiện cũng khác nhau.
Theo từ điển Bách khoa, cơ cấu kinh tế là “tổng thể các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” [29, tr 45]. Đồng thời cơ cấu kinh tế “là tương quan giữa các bộ phận trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận”[31]. Theo tác giả Ngô Đình Giao, cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan 14 hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong không gian, thời gian và điều kiện KT – XH nhất định [12]. Cơ cấu kinh tế của một quốc gia hay một địa phương là tổng thể những mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế của một quốc gia hay của địa phương đó, bao gồm cơ cấu theo các lĩnh vực (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng); cơ cấu theo các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải); cơ cấu theo các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, tư nhân); cơ cấu theo các vùng lãnh thổ kinh tế… Cơ cấu kinh tế không phải là bất biến.
Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và đặc điểm chính trị xã hội của mỗi quốc gia hay mỗi địa phương thích ứng với từng thời kỳ lịch sử nhất định. Do đó, cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử và chỉ được coi là hợp lý ở một thời kỳ lịch sử cụ thể. Như vậy, có thể hiểu, cơ cấu kinh tế là một tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế của mỗi nước hoặc vùng lãnh thổ, các bộ phận đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao [31]. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế thay đổi theo từng thời kỳ phát triển, bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế không cố định mà luôn biến đổi.
Sự thay đổi về cơ cấu các ngành hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và do tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế là không đồng đều. Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội, biểu hiện trên hai mặt: một là, lực lượng sản xuất càng phát triển càng tạo điều kiện cho quá trình phân công lao động 15 xã hội trở nên sâu sắc; hai là, sự phát triển của phân công lao động xã hội đến lượt nó lại càng làm cho các mối quan hệ kinh tế được củng cố và phát triển. Như vậy, sự thay đổi về số lượng và chất lượng của cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, nó phản ảnh mức độ đạt được của quá trình công nghiệp hóa.Chenery (1988), khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tổng sản phẩm quốc dân, bao gồm sự tích luỹ của vốn vật chất và con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm.
Ngoài ra còn các quá trình kinh tế xã hội kèm theo như đô thị hoá, biến động dân số, thay đổi trong thu nhập [3]. Theo cách hiểu thông thường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi trạng thái cơ cấu của nền kinh tế từ thời điểm này sang thời điểm khác. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa phản ánh được bản chất (về số lượng, chất lượng của cơ cấu kinh tế) và chưa nêu được mục đích của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (vì đây không phải là một quá trình vận động tự thân mà là quá trình có sự điều khiển chủ quan của con người) [14]. Theo Đỗ Hoài Nam (1996), chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là quá trình cải biến kinh tế - xã hội từ lạc hậu, mang tính chất tự cấp, tự túc bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế [18].
Theo Ngô Doãn Vịnh (2005), chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỷ lệ, thành phần trong cơ cấu kinh tế, từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm có được sự phát triển tốt hơn, hiệu quả hơn [37]. Khái niệm này vừa khắc phục được những điểm yếu trên, vừa đưa ra được mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ thường được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng các ngành trong tổng giá trị sản phẩm nội địa 16 (GDP) của quốc gia đó hay vùng đó. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không phải đơn thuần là thay đổi vị trí mà là quá trình tích lũy về số lượng dẫn đến sự biến đổi về chất của cơ cấu kinh tế.
Quá trình này diễn ra trên cả ba khía cạnh: theo ngành, theo lãnh thổ và theo thành phần kinh tế. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ đơn giản đến phức tạp (tức là số ngành, số sản phẩm ngày càng nhiều; phạm vi liên kết ngày càng rộng; từ ít đến nhiều; từ trong nước ra ngoài nước), từ trạng thái có trình độ thấp sang trạng thái có trình độ cao hơn nhằm đem lại lợi ích lớn hơn như mong muốn của con người qua các thời kỳ phát triển. Đồng thời, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội đó xác định cho từng thời kỳ phát triển. Sự chuyển dịch đó đòi hỏi phải có thời gian và phải trải qua những bậc thang nhất định của sự phát triển.
Đầu tiên là sự thay đổi về lượng, khi lượng đã tích lũy đến độ nhất định tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chất. Đó là quá trình chuyển hóa dần từ cơ cấu kinh tế cũ thành cơ cấu kinh tế mới phù hợp và có hiệu quả hơn. Tóm lại, có thể hiểu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau về số lượng và chất lượng trong một không gian và thời gian, với những điều kiện xã hội cụ thể hướng vào mục tiêu đã định. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là quá trình chuyển nền kinh tế từ trạng thái cơ cấu này sang trạng thái cơ cấu khác ở trình độ cao hơn, hiện đại, hiệu quả và bền vững hơn.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thực chất là sự thay đổi tương quan giữa ba ngành kinh tế lớn nông nghiệp, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ trong tổng thể cơ cấu kinh tế, trong đó, diễn ra sự tăng lên về tỷ trọng của nhóm ngành này và sự giảm đi về tỷ trọng của nhóm 17 ngành kia. Sự chuyển dịch cơ cấu này dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến và phù hợp hơn. Đặc điểm của chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phản ánh sự thay đổi về chất của nền kinh tế theo hướng CNH - HĐH, tạo tiền đề vật chất cho sự tăng trưởng, ổn định của nền kinh tế. Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế được đánh giá qua các tiêu chí gồm: + Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo; + Đảm bảo khai thác tối đa các tiềm năng, nguồn lực của đất nước, của ngành, của địa phương; + Phản ánh đúng các quy luật khách quan bao gồm các quy luật tự nhiên, kinh tế và xã hội.
Chẳng hạn như việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi làm sao cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai của vùng.