Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về đầu tư và thu hút đầu tư. Chương 2: Tình hình thu hút đầu tư vào tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư vào tỉnh Thừa Thiên Huế PHẦD III: Kết luận và Kiến nghị. 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
guyễn Thị Thúy Hằng PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÍ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ ĐẦU TƯ VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ 1. Tổng quan về đầu tư 1. Khái niệm đầu tư Trong thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về đầu tư, điều nay phụ thuộc vào việc đứng trên các gốc độ nghiên cứu mà hình thành nên những khái niệm đầu tư khác nhau. “Hoạt động đầu tư” nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
[5] “Đầu tư” là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. [15] N hư vậy, chúng ta có thể hiểu chung nhất về đầu tư: “Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực (tiền vốn, lao động, đất đai, nguyên liệu,…)cho mục đích sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian tương đối dài nhằm thu về sản ph_m, lợi nhuận và lợi ích kinh tế - xã hội”. Khái niệm này về cơ bản đã thể hiện bản chất của đầu tư trong nền kinh tế, có thể áp dụng cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp. Từ các khái niệm trên có thể rút ra các đặc điểm của đầu tư như sau: Một là, đầu tư phải có vốn.
Vốn có thể biểu hiện bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, các nguồn tài nguyên, công trình kỹ thuật thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau như vốn nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn. Hai là, Thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm. N hững hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. guyễn Thị Thúy Hằng tài chính không được gọi là đầu tư.
Thời gian đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án. Ba là, Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai khía cạnh bao gồm: Lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội). Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế. Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhà đầu tư, còn lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng.
Phân loại đầu tư Đầu tư được chia làm hai loại: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó nhà đầu tư vừa bỏ vốn vừa trực tiếp tham gia quản lý, kiểm soát và sử dụng phần vốn góp của mình trong hoạt động đầu tư kinh doanh. [14] N hà đầu tư có thể là đơn vị thuộc nhà nước, chính phủ đầu tư vào cộng đồng nhằm mang lại lợi ích cho xã hội, được thể hiện qua việc đầu tư vào các công trình dân sinh, phúc lợi. N goài ra, nhà đầu tư còn có thể là cá nhân, doanh nghiệp bao gồm nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Đầu tư gián tiếp Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn không trực tiếp tham gia điều hành quản lí quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. N gười bỏ vốn đầu tư và người quản lý không cùng chủ thể. Đầu tư gián tiếp thường được thể hiện dưới các hình thức cho vay, cổ phiếu, trái phiếu, đầu tư gián tiếp nước ngoài FDI, viện trợ không hoàn lại hoặc có hoàn lại ODA. Dự án đầu tư Thuật ngữ “dự án” (tiếng Anh là “project”) dùng để chỉ một kế hoạch chi tiết và thận trọng do một chủ thể lập ra để thực hiện công việc nào đó trong khoảng thời gian nhất định nhằm đạt được kết quả mà chủ thể đó mong muốn.
Qua định nghĩa trên, có 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. guyễn Thị Thúy Hằng thể thấy, “dự án” có thể xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Ví dụ như: Dự án phát triển giáo dục, đề án xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường,. N hư vậy, có thể rút ra khái niệm về dự án đầu tư, như sau: “Dự án đầu tư” là dự án được thực hiện lĩnh vực đầu tư, do các nhà đầu tư lên kế hoạch nhằm thực hiện mục đích đầu tư của mình, trong một khoảng thời gian xác định nhằm đạt được kết quả mà nhà đầu tư đó mong muốn.
Về mặt hình thức, dự án đầu tư được thể hiện dưới dạng một loại tài liệu, trong đó, ghi nhận toàn bộ các nội dung có liên quan đến hoạt động đầu tư như thông tin nhà đầu tư, kế hoạch thực hiện dự án, thời gian thực hiện dự án, hiệu suất đầu tư, khả năng thu hồi vốn,… Về mặt nội dung, có thể hiểu, dự án đầu tư là toàn bộ các hoạt động như cấp phép, xây dựng cơ sở hạ tầng, dự án đi vào hoạt động, cùng các các chi phí có liên quan,vv. để thực hiện dự án đầu tư. Định nghĩa về khái niệm “dự án đầu tư” cũng đã được các nhà làm Luật cụ thể hóa, quy định tại khoản 4 điều 3 Luật Đầu tư 2020, như sau: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Tổng quan về vốn đầu tư và thu hút vốn đầu tư 1.
Khái niệm vốn đầu tư Vốn đầu tư là phần tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh - dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và huy động từ các nguồn khác được đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt xã hội và sinh hoạt cho mỗi gia đình. [5] Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác theo quy định của pháp luật về dân sự và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt N am là thành viên để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. [16] 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. guyễn Thị Thúy Hằng b.
Phân loại vốn đầu tư Vốn đầu tư là tập hợp các loại chi phí nhằm đạt được mục đích đầu tư thông qua việc xây dựng nhà xưởng, máy mọc thiết bị, thuê nhân công. Do đối tượng của đầu tư phức tạp nên tính chất của chúng cũng đa dạng, do đó cần phải phân loại vốn đầu tư để phản ánh được các mặt hoạt động của đầu tư, thấy được sự cân đối hay mặt cân đối trong sự phát triển toàn diện của mỗi doanh nghiệp. Đồng thời, vốn đầu tư cũng là nhân tố quan trọng trong thúc đNy đầu tư phát triển bên cạnh khoa học kĩ thuật, tài nguyên thiên nhiên.Vậy nên, việc phân loại và đánh giá đúng trọng tâm từng nguồn vốn để đưa ta được những chính sách thu hút vốn đầu tư hiệu quả hơn. Vốn đầu tư được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại.
Để thuận tiện trong quá trình phân tích tìm hiểu, ta xét trên góc độ toàn nền kinh tế (vĩ mô), nguồn vốn bao gồm: N guồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư bằng nguồn vốn trong nước N guồn vốn trong nước là phần tích lũy trong nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất. Biểu hiện cụ thể của vốn đầu tư trong nước bao gồm: nguồn vốn đầu tư nhà nước, nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân cư. Dguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm: nguồn vốn ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, nguồn vốn đầu tư và phát triển của doanh nghiệp nhà nước.
[5] +) Dguồn vốn ngân sách nhà nước: Được hình thành từ thu thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động của thành phần kinh tế nhà nước, từ vay viện trợ ưu đãi nước ngoài, vay trên thị trường quốc tế, vay trong dân dựa trên việc phát hành trái phiếu chính phủ. N guồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. guyễn Thị Thúy Hằng gia của N hà nước, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn. [5] +) Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Dhà nước: là quan hệ tín dụng trong đó nhà nước là người đi vay để đảm bảo các khoản chi của ngân sách, đồng thời nhà nước cũng là người cho vay để đảm bảo các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế.
[5] Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của N hà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. N guồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của N hà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp của N hà nước. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn.