Chương 1 nêu tổng quan vấn đề nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, Chương 2 nêu cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu, Chương 3 phân tích năng lực cạnh tranh ngành du lịch tỉnh Quảng Nam và Chương 4 nêu kết luận và các khuyến nghị chính sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam -5- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết Du lịch được hiểu là việc đến một nơi nào đó để thư giản, giải trí thay vì là làm việc (Ibimilua, 2009, trang 244-258). Đây cũng là hoạt động kinh tế đòi hỏi đầu vào ở tất cả lĩnh vực từ kinh tế, xã hội, văn hóa cho đến tài nguyên thiên nhiên.
Aris Anuar, Ahmad, Jusoh, & Hussain (2012, trang 146-156) đã đưa ra khái niệm về điểm đến thân thiện là những điểm đến làm hài lòng khách du lịch thông qua các hoạt động, không gian hay sản phẩm khách du lịch có thể tiếp cận mà không bị giới hạn hay gây khó khăn khi lựa chọn điểm đến. Từ khái niệm đó, tác giả cũng đã đưa ra những yếu tố có thể ảnh hưởng sự hình thành của một điểm đến thân thiện như sự thay đổi trong khuynh hướng du lịch, sự thay đổi thị hiếu khách du lịch, sự gia tăng của khả năng du lịch (tài chính, giao thông), việc hợp tác công tư hay tiêu chí lựa chọn điểm đến. Các tiếp cận của tác chủ yếu ở cấp độ vĩ mô nhưng cũng đã cho thấy được mối quan hệ giữa các hoạt động du lịch, sản phẩm và không gian trong việc hình thành các điểm đến thân thiện. Theo Dwyer và Kim (2010) thì để có được lợi thế cạnh tranh, bất kỳ điểm đến nào cũng phải có những điểm thu hút hay cung cấp cho du khách những trãi nghiệm vượt trội hơn so với những điểm đến khác.
Các khách du lịch tiềm năng hay hiện hữu của các điểm đến đều có sự gắn bó chặt chẽ với khả năng cạnh tranh chung của điểm đến. Từ đó Dwyer và Kim đã đưa ra bộ tiêu chí để đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của du khách trong việc chọn điểm đến mà dựa trên đó các địa phương có thể đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của các điểm đến. Theo Porter (2008) thì ngành dịch vụ đang ngày càng phát triển mạnh, trở thành ngành quan trọng của nhiều nền kinh tế. Thêm vào đó, ngành dịch vụ đang trở nên quốc tế hóa và chuyên môn hóa rất cao.
Nhu cầu về dịch vụ gia tăng không chỉ ở các công ty mà cả với các hộ gia đình. Khác với ngành sản xuất, cạnh tranh trong ngành dịch vụ mang tính quốc tế cao bởi sự cơ động của cả nhà cung cấp lẫn khách hàng. Cả nhà cung cấp và khách hàng đều không bị giới hạn bởi ranh giới cứng là biên giới quốc gia khi mà các nhà cung cấp nước ngoài có thể sử dụng đội ngũ nhân sự và phương tiện của nước sở tại để cung cấp dịch vụ hay khách hàng thì có thể di chuyển đến nơi khác để tiêu dùng dịch vụ. Do đó, mô hình kim cương mà Porter áp dụng cho ngành dịch vụ cũng có sự khác biệt so với ngành sản xuất.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. 1: Mô hình kim cương của Michael Porter Nguồn: Porter (2008), trích từ Vũ Thành Tự Anh (2012, trang 6) Các điều kiện về yếu tố đầu vào: đây là yếu tố quan trọng đối với các ngành dịch vụ mà người tiêu dùng phải đến một quốc gia thì mới có thể sử dụng dịch vụ như ngành du lịch. Trong đó, các yếu tố về địa lý, khí hậu, tài nguyên du lịch có ảnh hưởng lớn đến khả năng thu hút khách hàng của ngành này. Những điều kiện cầu: tính quốc tế hóa của cầu dịch vụ mang đến sự đa dạng trong nhu cầu và sở thích của khách hàng.
Những yêu cầu khác nhau và sự khó tính của mỗi nhóm khách hàng tạo ra những thách thức khiến các nhà cung cấp phải cải thiện dịch vụ cũng như đưa ra những dịch vụ mới để phù hợp với từng nhóm khách hàng. Những ngành phụ trợ liên quan: lợi thế trong sự phát triển của một ngành dịch vụ giúp làm “nảy sinh ra” những dịch vụ có liên quan và bổ trợ khác. Ngược lại, sự phát triển của các ngành nghề liên quan này cũng giúp gia tăng lượng cầu cho ngành dịch vụ đó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam -7- Bối cảnh cho chiến lược cạnh tranh: tính chất của cạnh tranh nội địa là yếu tố quyết định đến sự phát triển của các doanh nghiệp.
Sự cạnh tranh mạnh mẽ và không có rào cản sẽ tạo môi trường kinh doanh phong phú cho các doanh nghiệp. Bên cạnh bốn đỉnh của mô hình kim cương, sự can thiệp của chính phủ cũng có những tác động đến sự phát triển của ngành dịch vụ. Đối với các địa phương mà các ngành dịch vụ được phát triển linh hoạt thì có cơ hội để đa dạng hóa sản phẩm cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm. Hiện nay, mô hình kim cương của Porter vẫn là mô hình được sử dụng phổ biển trong phân tích cụm ngành.
Dựa vào các yếu tố trong mô hình kim cương, các địa phương có thể xác định những điểm mạnh, điểm yếu trong cụm ngành của địa phương từ đó có thể đưa ra những chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành. Cụm ngành du lịch Quảng Bình – Huế - Đà Nẵng – Quảng Nam Sử dụng mô hình kim cương của Porter, Nguyễn Thị Thanh Nga (2014, trang 35) khi nghiên cứu về cụm ngành du lịch Quảng Bình cũng đã có những phát hiện về những hạn chế của cụm ngành du lịch nơi đây, trong đó hạn chế nhất là nền tảng tri thức. Tuy nhiên, để cải thiện tình trạng này cần có nguồn vốn đầu tư lớn cùng với việc sử dụng vốn hiệu quả và tập trung cho du lịch. Đây có thể xem là vấn đề chung đối với các địa phương khác trong cả nước.
Nghiên cứu về cụm ngành du lịch ba tỉnh Huế - Đà Nẵng và Quảng Nam, tác giả Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Văn Long (2013) cũng đã chỉ ra vấn đề cốt yếu của cụm ngành du lịch nơi đây là cần sự liên kết từ chính quyền cho đến tư nhân theo mạng lưới dọc, ngang. Việc phát triển cụm ngành du lịch không chỉ đòi hỏi sự tập hợp của các nhân tố cốt lõi như điểm đến, lưu trú, lữ hành… mà còn đòi hỏi sự hỗ trợ, hợp tác từ chính quyền và các đơn vị nghiên cứu. Việc nhận diện cụm ngành là rất quan trọng, trong đó mạng lưới được hình thành trên sự chia sẻ về tri thức và đổi mới mang lại lợi ích cho mỗi nhân tố tham gia cụm ngành. Tóm lại, các kết quả nghiên cứu trước đều cho thấy vai trò của nền tảng tri thức và sự liên kết cũng như những hỗ trợ từ chính quyền đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển cụm ngành du lịch của khu vực.
Phương pháp nghiên cứu Đề tài được thực hiện theo phương pháp định tính. Số liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê Quảng Nam, Điều tra chi tiêu của khách du lịch của Tổng cục Thống TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam -8- kê và một số báo cáo, nghiên cứu khác. Sau khi phân tích số liệu thứ cấp để tìm hiểu vấn đề chính của ngành du lịch Quảng Nam, tác giả tham vấn ý kiến chuyên gia. Số liệu được phân tích dựa theo mô hình kim cương của Porter gồm (i) các điều kiện về yếu tố đầu vào, (ii) những điều kiện cầu, (iii) những ngành phụ trợ liên quan, (iv) bối cảnh cho chiến lược cạnh tranh.
Sau khi xác định những vấn đề của ngành du lịch Quảng Nam thông qua phân tích số liệu, tác giả tham vấn ý kiến các chuyên gia của Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Cục thuế Tỉnh cũng như Phòng Du lịch – Thương mại Hội An. Từ đó, tác giả đưa ra những đề xuất để tháo gỡ những trục trặc mà ngành du lịch địa phương đang đối mặt. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam -9- CHƯƠNG 3: NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH DU LỊCH TỈNH QUẢNG NAM 3. Tổng quan kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam 3.
Tổng sản phẩm nội địa (GDP) Mười năm qua (2004 – 2014), Quảng Nam luôn duy trì tốc độ tăng trưởng GDP rất cao, luôn trên 10%, thậm chí năm 2007 và 2010 tốc độ này trên 13%. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng này lại không ổn định và có sự tăng giảm theo giai đoạn khoảng 4 – 5 năm (Hình 3. Mặc dù có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhưng thu nhập bình quân đầu người của Quảng Nam vẫn thuộc nhóm thấp so với các tỉnh trong khu vực miền Trung (xem thêm tại 3. 1: Tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm nội địa tỉnh Quảng Nam tính theo giá 2010 14.00% 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam (2015) 3.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong vòng mười năm từ 2004 đến 2014, cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Nam đã dịch chuyển từ nông nghiệp – thương mại, dịch vụ - công nghiệp sang công nghiệp – thương mại, dịch vụ - nông nghiệp. Sự chuyển dịch này chủ yếu xảy ra giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp. Từ năm 2004 – 2014, tỷ trọng nông nghiệp trong tổng GDP của tỉnh giảm 22% thì có đến 16% là sự gia tăng của khu vực công nghiệp trong khi đó khu vực thương mại – dịch vụ chỉ tăng 6% (Hình 3. Giai đoạn 2004 – 2009, trung bình thay đổi tỷ trọng trong ngành thương mại - dịch vụ đạt 0,51%.
Giai đoạn 2010 – 2014 thì trung bình thay đổi tỷ trọng này cũng chỉ đạt 0,76%. Trong khi đó, trung bình thay đổi tỷ trọng của ngành công nghiệp giai đoạn 2004 – 2009 là 2,44% nhưng đến giai đoạn 2010 – 2014 chỉ đạt 0,79%. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. 2: Tỷ trọng các ngành trong GDP Quảng Nam tính theo giá 2010 (%) 100% 90% 80% 35.01% Thương mại - 70% Dịch vụ 60% Công nghiệp 50% 24.97% 0% 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam (2015) Xem xét cụ thể đóng góp của từng ngành kinh tế trong mỗi khu vực thì vai trò chủ đạo vẫn thuộc về ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với cơ cấu chiếm khoảng 30% GDP của địa phương.
Các ngành liên quan trực tiếp đến lĩnh vực du lịch như dịch vụ lưu trú – ăn uống và hoạt động nghệ thuật – vui chơi – giải trí chỉ đóng vai trò rất khiêm tốn trong GDP của tỉnh với tỷ lệ lần lượt khoảng 7% và 1% .