Tổng quan nghiên cứu
Trong giai đoạn 2010 – 2014, du lịch tỉnh Quảng Nam đã có sự bứt phá mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng lượng du khách bình quân đạt 14%/năm, vượt xa mức tăng trưởng xấp xỉ 6%/năm của tỉnh Quảng Bình và tỉnh Thừa Thiên Huế. Với lợi thế sở hữu hai di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận là Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn, Quảng Nam thu hút hơn 3,6 triệu lượt khách vào năm 2014, giữ vị trí hàng đầu khu vực duyên hải miền Trung. Tuy nhiên, đằng sau sự gia tăng về số lượng là một nghịch lý lớn về hiệu quả kinh tế: doanh thu du lịch của Quảng Nam chỉ tương đương tỉnh Thừa Thiên Huế và bằng khoảng một nửa so với thành phố Đà Nẵng.
Vấn đề cốt lõi của ngành du lịch địa phương nằm ở chất lượng tăng trưởng thấp. Tỷ lệ khách lưu trú trên tổng lượng khách tham quan hầu như không có sự cải thiện trong suốt gần một thập kỷ, chỉ dao động từ 30,40% năm 2007 lên 31,69% năm 2015. Đáng báo động hơn, mức chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tế đã sụt giảm nghiêm trọng từ 134,31 USD/ngày vào năm 2009 xuống còn 75,9 USD/ngày vào năm 2013, trong khi chi tiêu của khách nội địa tự sắp xếp chuyến đi đạt 996.600 đồng/ngày.
Mục tiêu nghiên cứu tập trung bóc tách các bất cập, nút thắt thể chế và sự thiếu liên kết trong chuỗi giá trị du lịch Quảng Nam. Dựa trên việc phân tích không gian địa lý tỉnh Quảng Nam với trọng tâm là đô thị cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn và Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm trong giai đoạn 2004 – 2015, nghiên cứu chỉ ra những lỗ hổng trong quản lý nguồn thu và quy hoạch đầu tư. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc lượng hóa tổn thất ngân sách với khoảng 80% số thuế thu nhập doanh nghiệp từ cơ sở lưu trú bị thất thoát, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học để hoạch định lại chính sách công, nâng cao công suất phòng từ mức 60% và gia tăng giá trị chuỗi cung ứng dịch vụ địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu ứng dụng Mô hình Kim cương của Michael Porter (năm 2008) được hiệu chỉnh cho khu vực dịch vụ nhằm phân tích năng lực cạnh tranh tổng thể. Khung lý thuyết này đánh giá 4 đỉnh tương tác gồm: Điều kiện yếu tố đầu vào (tài nguyên tự nhiên, hạ tầng giao thông, nhân lực); Điều kiện cầu (cơ cấu khách, thị hiếu và hành vi chi tiêu); Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan (lưu trú, lữ hành, ẩm thực, giải trí); Bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh nội địa (môi trường kinh doanh, thủ tục gia nhập thị trường). Ngoài ra, mô hình kết hợp hai yếu tố ngoại sinh quan trọng là vai trò điều tiết của chính quyền địa phương và các cơ hội phát triển.
Bên cạnh đó, đề tài tích hợp lý thuyết điểm đến thân thiện của Aris Anuar và cộng sự (năm 2012) cùng khung đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến của Dwyer và Kim (năm 2010). Các khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt gồm: Cụm ngành du lịch (Tourism Cluster), Năng lực cạnh tranh điểm đến (Destination Competitiveness), Thất thoát tài khóa (Fiscal Leakage) và Thương mại hóa di sản (Heritage Commercialization). Sự kết hợp này giúp làm rõ tại sao dịch vụ lưu trú và ăn uống dù chiếm 7% GDP tỉnh và hoạt động nghệ thuật, giải trí chỉ đóng góp 1% GDP năm 2014 nhưng lại giữ vai trò quyết định đến năng lực cạnh tranh toàn ngành.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích số liệu thứ cấp và phỏng vấn tham vấn chuyên gia sâu. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám Thống kê tỉnh Quảng Nam (giai đoạn 2004 – 2015), Điều tra chi tiêu khách du lịch của Tổng cục Thống kê (các năm 2006, 2007, 2010, 2012, 2014), Báo cáo chuyên đề của Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Quảng Nam, số liệu quản lý thuế từ Cục Thuế tỉnh Quảng Nam và Bộ chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố.
Về quy mô mẫu phân tích, nghiên cứu tiếp cận dữ liệu chuỗi thời gian 10 năm của toàn bộ nền kinh tế Quảng Nam, đồng thời chọn mẫu điển hình chuyên sâu đối với 154 cơ sở lưu trú tại thành phố Hội An (chiếm hơn 66% tổng số 210 cơ sở lưu trú toàn tỉnh) để ước tính thất thoát thuế. Việc lựa chọn phương pháp định tính kết hợp phân tích đối chiếu tài chính vi mô được luận giải bởi tính chất phức tạp của các giao dịch tiền mặt trong ngành dịch vụ du lịch, nơi dữ liệu định lượng đơn thuần không thể phản ánh hết các hành vi né thuế và sự chuyển dịch văn hóa xã hội. Tác giả đã tiến hành tham vấn chuyên gia từ Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Cục Thuế tỉnh Quảng Nam và Phòng Du lịch – Thương mại Hội An nhằm kiểm chứng tính xác thực của các phát hiện.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, công tác khai thác tài nguyên du lịch đối mặt với nguy cơ thương mại hóa nghiêm trọng và sự suy giảm giá trị văn hóa bản địa. Tại Phố cổ Hội An – hạt nhân đón hơn 50% tổng lượng khách toàn tỉnh – có tới 53% di tích sau khi tu bổ bị sử dụng sai mục đích ban đầu để chuyển sang kinh doanh thương mại. Hiện tượng chuyển nhượng 83 ngôi nhà cổ và cho thuê 181 căn nhà khác đã khiến gần 3.000 cư dân gốc rời khỏi khu vực di sản, làm rỗng hóa không gian văn hóa sống. Trong khi đó, Thánh địa Mỹ Sơn chỉ đón khoảng 270.000 lượt khách vào năm 2015 (chiếm chưa đầy 8% lượng khách đến Quảng Nam) do nội dung trưng bày đơn điệu, thiếu vắng các dịch vụ bổ trợ.
Thứ hai, tỷ lệ chuyển đổi từ khách tham quan sang nguồn thu trực tiếp đạt mức rất thấp. Tại Hội An, tỷ lệ du khách có mua vé tham quan chỉ đạt 38,32% vào năm 2013, trong đó khách quốc tế đạt 48,21% và khách nội địa chỉ đạt 28,51%. Điều này khiến nguồn thu từ bán vé không đủ bù đắp chi phí vận hành bộ máy và tái đầu tư bảo tồn di sản.
Thứ ba, ngành phụ trợ lưu trú hoạt động kém hiệu quả và tình trạng thất thoát thuế ở mức báo động. Mặc dù số lượng khách tăng đều, công suất sử dụng buồng phòng toàn tỉnh năm 2014 chỉ đạt khoảng 60%. Doanh thu lưu trú của Hội An năm 2014 đạt 942 tỷ đồng, tổng doanh thu toàn ngành lưu trú ước tính vượt 1.400 tỷ đồng, tương ứng với lợi nhuận trước thuế ước đạt hơn 487 tỷ đồng (dựa trên tỷ lệ chi phí 66% theo khảo sát của Grant Thornton). Với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 22%, số thuế phải nộp ước tính hơn 100 tỷ đồng, nhưng số thuế thực tế thu được chỉ đạt gần 19 tỷ đồng, đồng nghĩa với việc thất thoát hơn 80% nguồn thu thuế thu nhập doanh nghiệp trong khu vực lưu trú.
Thứ tư, môi trường cạnh tranh và cơ chế chính sách bộc lộ sự bất bình đẳng. Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng của Quảng Nam trong bảng xếp hạng PCI đã giảm mạnh từ 7,46 điểm năm 2013 xuống 4,16 điểm năm 2015. Có tới 80,16% doanh nghiệp tư nhân nhận định các đơn vị có mối quan hệ với chính quyền dễ tiếp cận nguồn lực kinh tế hơn, dù khu vực kinh tế ngoài nhà nước đóng góp tới 76% nguồn thu sản xuất kinh doanh của tỉnh năm 2014.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của các nút thắt trên bắt nguồn từ sự thiếu nhất quán trong quy hoạch phát triển. Theo Quyết định 2879/QĐ-UBND, tỉnh Quảng Nam đã định hướng phát triển dàn trải cùng lúc 7 loại hình du lịch trên toàn bộ không gian từ Đông sang Tây. Việc phân bổ nguồn vốn đầu tư công 141 tỷ đồng giai đoạn 2009 – 2014 cho 12 dự án hạ tầng du lịch nhỏ lẻ tại các khu vực vùng sâu như Hiệp Đức, Nam Giang, Bắc Trà My đã gây lãng phí nguồn lực, không tạo ra được chuỗi liên kết giá trị với trung tâm Hội An – Mỹ Sơn.
Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu trước đây về cụm ngành du lịch miền Trung khi chỉ ra rằng sự thiếu hụt nền tảng tri thức và hạ tầng liên kết vùng là rào cản lớn nhất. Sự phân mảnh trong liên kết giữa lưu trú, lữ hành và điểm đến khiến du khách chọn lưu trú tại Đà Nẵng và chỉ xem Quảng Nam là điểm ghé thăm trong ngày.
Để minh họa rõ hơn cấu trúc bất cập này, dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua mô hình kim cương với biểu đồ radar thể hiện sự suy giảm của chỉ số cạnh tranh bình đẳng (giảm 3,3 điểm) đối lập với chỉ số gia nhập thị trường ở mức cao (8,52 điểm). Đồng thời, biểu đồ cột so sánh mức thuế thu nhập doanh nghiệp thực thu (19 tỷ đồng) so với mức tiềm năng (hơn 100 tỷ đồng) phản ánh rõ nét khoảng trống quản trị tài khóa cần được khơi thông.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, tái định vị quy hoạch không gian du lịch trọng điểm giai đoạn 2016 – 2020. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cùng Sở Xây dựng và Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch cần thu hẹp không gian quy hoạch ưu tiên vào tam giác động lực: thị xã Điện Bàn – thành phố Hội An – huyện Duy Xuyên. Định hướng xây dựng thương hiệu rõ nét là Điểm đến Di sản – Sinh thái, đồng thời ban hành quy chế siết chặt quản lý kiến trúc, khống chế tỷ lệ chuyển đổi công năng nhà ở sang thương mại thuần túy tại khu vực I phố cổ Hội An ở mức dưới 40% nhằm bảo tồn không gian sống cho cư dân bản địa.
Thứ hai, nâng cấp chiều sâu nội dung và trải nghiệm văn hóa tại các di sản thế giới. Ban Quản lý Di tích Mỹ Sơn và Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An cần triển khai các chương trình biểu diễn nghệ thuật thực cảnh trên sông Hoài và xây dựng tour trải nghiệm văn hóa Chăm-pa tương tác cao trước năm 2018. Mục tiêu nâng tỷ lệ khách mua vé tham quan tại Hội An lên trên 70% và gia tăng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1,5 ngày lên 2,5 ngày vào năm 2020.
Thứ ba, hiện đại hóa quản lý thuế và phân cấp tài chính cho đô thị di sản. Cục Thuế tỉnh Quảng Nam cần chủ trì liên thông cơ sở dữ liệu đăng ký lưu trú của Công an tỉnh với hệ thống quản lý thuế trực tuyến để kiểm soát doanh thu phòng thực tế. Hội đồng nhân dân tỉnh cần ban hành cơ chế đặc thù cho phép thành phố Hội An giữ lại 50% số thu thuế thu nhập doanh nghiệp từ các cơ sở lưu trú trên địa bàn để tự chủ đầu tư hạ tầng du lịch công cộng, phấn đấu tăng thu ngân sách thêm 40 – 50 tỷ đồng/năm từ năm 2017.
Thứ tư, phát triển chuỗi giá trị du lịch làng nghề gắn với sinh kế bền vững. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Sở Công thương triển khai hiệu quả Đề án phát triển 16 làng nghề truyền thống theo Quyết định 1222/QĐ-UBND ngày 07/04/2015. Tập trung hỗ trợ vốn, đào tạo 100 nghệ nhân trẻ mỗi năm tại làng gốm Thanh Hà và mộc Kim Bồng, bảo đảm đầu ra sản phẩm mỹ nghệ lưu niệm độc quyền để thu nhập từ du lịch chiếm trên 50% cơ cấu thu nhập của hộ gia đình làng nghề vào năm 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách cấp tỉnh, đặc biệt là Sở Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính các địa phương có di sản như Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Ninh Bình, Quảng Bình. Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng để xây dựng quy hoạch du lịch tập trung, thiết kế cơ chế phân cấp nguồn thu thuế và giải quyết bài toán chống thất thu ngân sách trong ngành dịch vụ.
Thứ hai, ban quản lý các di sản văn hóa, khu bảo tồn thiên nhiên và các tổ chức phát triển du lịch bền vững. Tài liệu mang lại góc nhìn thực tế về tác động tiêu cực của thương mại hóa di sản, gợi mở phương thức tái cấu trúc trải nghiệm phi vật thể và giải pháp cân bằng giữa bảo tồn kiến trúc với bảo vệ sinh kế của cộng đồng cư dân bản địa.
Thứ ba, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, chuỗi khách sạn và nhà đầu tư bất động sản nghỉ dưỡng. Luận văn hỗ trợ các nhà đầu tư nhận diện xu hướng hành vi, phân khúc chi tiêu của du khách quốc tế từ Tây Âu, Úc, Nhật Bản, từ đó xây dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm cao cấp nhằm nâng cao công suất sử dụng buồng phòng vượt ngưỡng 60%.
Thứ tư, các giảng viên, nhà nghiên cứu kinh tế và học viên cao học ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển, Quản trị du lịch. Đây là tài liệu tham khảo điển hình về việc ứng dụng Mô hình Kim cương Michael Porter trong phân tích cụm ngành cấp địa phương, kết hợp xử lý dữ liệu vi mô để phát hiện các lỗ hổng chính sách tài khóa.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân chính khiến doanh thu du lịch Quảng Nam thấp hơn Đà Nẵng dù có lượng khách tương đương là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do cơ cấu khách lưu trú của Quảng Nam chỉ đạt 31,69% năm 2015 và chi tiêu bình quân của khách quốc tế giảm còn 75,9 USD/ngày năm 2013. Phần lớn du khách chọn lưu trú và sử dụng các dịch vụ cao cấp, mua sắm tại Đà Nẵng, sau đó chỉ thực hiện các chuyến tham quan ngắn trong ngày tại Quảng Nam.
Tại sao luận văn ước tính ngành lưu trú Hội An thất thoát tới 80% thuế thu nhập doanh nghiệp?
Năm 2014, doanh thu lưu trú của Hội An đạt 942 tỷ đồng, tổng doanh thu toàn ngành lưu trú ước đạt hơn 1.400 tỷ đồng với lợi nhuận trước thuế khoảng 487 tỷ đồng. Theo mức thuế suất 22%, số thuế phải nộp ước tính hơn 100 tỷ đồng, nhưng số thuế thực tế nộp vào ngân sách chỉ đạt gần 19 tỷ đồng do thanh toán tiền mặt và thiếu kiểm soát doanh thu phòng.
Hiện tượng thương mại hóa tác động tiêu cực như thế nào đến Phố cổ Hội An?
Quá trình thương mại hóa nhanh khiến 53% di tích sau trùng tu bị biến thành cửa hàng kinh doanh, 83 nhà cổ bị chuyển nhượng và 181 nhà cho thuê. Gần 3.000 cư dân gốc đã rời phố cổ, làm suy giảm nghiêm trọng không gian sinh hoạt văn hóa truyền thống – yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị di sản sống của đô thị cổ.
Mô hình Kim cương Michael Porter áp dụng cho ngành dịch vụ du lịch có điểm gì khác so với sản xuất?
Trong ngành du lịch, sự cạnh tranh mang tính quốc tế hóa cao vì khách hàng trực tiếp di chuyển xuyên biên giới đến điểm đến để tiêu dùng dịch vụ. Yếu tố đầu vào phụ thuộc chặt chẽ vào tài nguyên văn hóa, khí hậu tự nhiên không thể dịch chuyển, đồng thời đòi hỏi sự gắn kết hữu cơ giữa cụm ngành phụ trợ lưu trú, lữ hành và chính sách quản lý nhà nước.
Quy hoạch du lịch Quảng Nam giai đoạn trước năm 2016 gặp phải khiếm khuyết lớn nhất nào?
Khiếm khuyết lớn nhất là quy hoạch dàn trải không gian trên toàn tỉnh và cùng lúc ôm đồm 7 loại hình du lịch theo Quyết định 2879. Việc đầu tư 141 tỷ đồng vốn ngân sách cho 12 dự án phân tán tại các huyện miền núi xa xôi đã làm phân tán nguồn lực, không tạo được điểm nhấn cạnh tranh cho cụm di sản trung tâm.
Kết luận
- Luận văn làm rõ nghịch lý ngành du lịch Quảng Nam duy trì tốc độ tăng trưởng lượng khách 14%/năm nhưng doanh thu thấp do tỷ lệ khách lưu trú dậm chân tại chỗ ở mức 31,69% và chi tiêu sụt giảm.
- Xác lập bằng chứng thực nghiệm về tình trạng thất thoát hơn 80% thuế thu nhập doanh nghiệp tại các cơ sở lưu trú Hội An, tương đương khoảng trống ngân sách hàng chục tỷ đồng mỗi năm.
- Cảnh báo nguy cơ xói mòn bản sắc văn hóa bản địa khi 53% di tích bị thương mại hóa và gần 3.000 cư dân bản địa chuyển nhượng, cho thuê nhà rời khỏi phố cổ.
- Chỉ ra sự bất cập trong quy hoạch dàn trải 7 loại hình du lịch và việc phân bổ 141 tỷ đồng đầu tư công phân tán tại các địa bàn kém kết nối.
- Khuyến nghị thu hẹp không gian phát triển vào tam giác Điện Bàn – Hội An – Duy Xuyên, thí điểm giữ lại 50% thuế thu nhập doanh nghiệp lưu trú cho Hội An và nâng cấp chiều sâu trải nghiệm di sản.
Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là việc vận dụng thành công Mô hình Kim cương Michael Porter vào phân tích chính sách công của một địa phương cụ thể, kết hợp phương pháp ước tính kinh tế vi mô để giải quyết các vấn đề quản trị tài khóa thực tiễn.
Lộ trình thực hiện khuyến nghị chia làm hai giai đoạn then chốt: giai đoạn 2016 – 2018 tập trung siết chặt quản lý thuế, điều chỉnh quy hoạch không gian lõi; giai đoạn 2018 – 2020 hoàn thiện chuỗi sản phẩm trải nghiệm di sản và phát triển du lịch làng nghề bền vững. Các cấp chính quyền và nhà nghiên cứu cần tiếp tục khai thác các phát hiện này để đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn chất lượng cao của tỉnh Quảng Nam.