CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG DỆT MAY TOÀN CẦU VÀ BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID 1. Tổng quan về chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu 1. Cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng 1. Khái niệm cơ bản về chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng, khái niệm tưởng chừng xa lạ và có phần học thuật này thực chất đã được hình thành và phát triển như một phần tất yếu cùng với sự tiến hóa của nhân loại.
Từ thời kỳ sơ khai, con người sống dựa vào săn bắt và hái lượm thì việc phối hợp giữa các bầy đàn để trao đổi hàng hóa, thỏa mãn nhu cầu đã đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đến thời kỳ chiến tranh, khái niệm này tiếp tục được phát triển. Napoleon, một chiến lược gia đại tài, đã nhấn mạnh: “Lương thực có đầy đủ thì quân đội mới có sức mạnh để chiến đấu”. Lời bình này đã cho thấy ông hiểu rõ tầm quan trọng của “chuỗi cung ứng hiệu quả”, rằng nếu những người lính không được cung cấp lương thảo đầy đủ, sức chiến đấu của họ sẽ bị suy giảm.
Khi thế giới hòa bình, các quốc gia đẩy mạnh phát triển kinh tế thì đây cũng chính là lúc chuỗi cung ứng được phát huy tối đa, giúp doanh nghiệp cắt giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh và trở thành một mắt xích của nền kinh tế toàn cầu. Dưới đây là một vài định nghĩa về chuỗi cung ứng (H.Hugos, 2017): o Chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường. o Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng.
Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 4 o Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng.: Minh họa một chuỗi cung ứng hợp nhất hiện nay Nguồn: Giáo trình Nguyên lý quản trị chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó. Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian và cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng. Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải tiến mức phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng. Cùng với sự phát triển của sản xuất, của công nghệ thông tin, thì dây chuyền cung ứng này càng phức tạp, vai trò của công nghệ thông tin trong quản trị dây truyền cung ứng ngày càng lớn.
Với ý tưởng chuỗi cung ứng này, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng chỉ có một nguồn tạo ra lợi nhuận duy nhất cho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng. Khi các doanh nghiệp riêng lẻ trong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi, điều này rốt cuộc dẫn đến giá bán cho khách hàng cuối Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 5 cùng là rất cao, mức phục vụ chuỗi cung ứng thấp và điều này làm cho nhu cầu khách hàng tiêu dùng cuối cùng trở nên thấp. Ví dụ một chuỗi cung ứng bắt đầu với các doanh nghiệp khai thác nguyên liệu từ đất - chẳng hạn như quặng sắt, dầu mỏ, gỗ và lương thực – và bán chúng cho các doanh nghiệp sản xuất vật liệu. Các doanh nghiệp này, đóng vai trò như người đặt hàng và sau khi nhận các yêu cầu về chi tiết kỹ thuật từ các nhà sản xuất linh kiện, họ sẽ tiếp tục chế biến vật liệu này thành các vật liệu thích hợp (như tấm thép, nhôm, đồng đỏ, gỗ xẻ và thực phẩm đã kiểm tra).
Đến lượt mình, các nhà sản xuất linh kiện phải đáp ứng đơn hàng và yêu cầu từ khách hàng của họ - nhà sản xuất sản phẩm cuối cùng. Đầu ra của quá trình này là các linh kiện hay các chi tiết trung gian (như dây điện, vải, mạch in, những chi tiết cần thiết. Nhà sản xuất sản phẩm cuối cùng (các công ty như IBM, General Motors, Coca- Cola) lắp ráp sản phẩm hoàn thành, bán chúng cho người bán sỉ hoặc nhà phân phối, để rồi những thành viên này sẽ bán chúng lại cho nhà bán lẻ, những người thực hiện sứ mệnh đưa sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng. Chúng ta mua sản phẩm trên cơ sở giá, chất lượng, tính sẵn sàng, sự bảo trì và danh tiếng với hy vọng rằng chúng thỏa mãn yêu cầu mà chúng ta mong đợi.
Đôi khi vì những lý do nào đó chúng ta cần trả sản phẩm hoặc các chi tiết do không đáp ứng yêu cầu hoặc đôi khi cần sửa chữa hoặc tái chế chúng, một qui trình ngược cũng rất cần thiết. Các hoạt động hậu cần ngược này cũng bao gồm trong chuỗi cung ứng. Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail. Các lĩnh vực ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng: Hình 1.: Sơ đồ biểu thị mối liên hệ 05 lĩnh vực chính trong chuỗi cung ứng Nguồn: Giáo trình Nguyên lý quản trị chuỗi cung ứng Mỗi chuỗi cung ứng đều có một kiểu nhu cầu thị trường và các thách thức kinh doanh riêng nhưng các vấn đề về cơ bản giống nhau trong từng chuỗi.
Các công ty trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào cũng phải quyết định riêng và chung trong 5 lĩnh vực sau: o Sản xuất: Thị trường muốn loại sản phẩm nào? Cần sản xuất bao nhiêu loại sản phẩm nào và khi nào? Hoạt động này bao gồm việc lập kế hoạch sản xuất chính theo công suất nhà máy, cân đối công việc, quản lý chất lượng và bảo trì thiết bị o Hàng tồn kho: Ở mỗi giai đoạn trong một chuỗi cung ứng cần tồn kho những mặt hàng nào? Cần dự trữ bao nhiêu nguyên liệu, bán thành phẩm hay thành phẩm? Mục đích trước tiên của hàng tồn kho là hoạt đông như một bộ phận giảm sốc cho tình trạng bất định trong chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, việc trữ hàng tồn rất tốn kém, vì thế đâu là mức độ tồn kho và điểm mua bổ sung tối ưu? o Địa điểm: Các nhà máy sản xuất và lưu trữ hàng tồn cần được đặt ở đâu? Đâu là vị trí hiệu quả nhất về chi phí cho sản xuất và lưu trữ hàng tồn? Có nên sử dụng các nhà máy có sẵn hay xây mới. Một khi các quyết định này đã lập cần xác định các con đường sẵn có để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 7 o Vận chuyển: Làm thế nào để vận chuyển hàng tồn từ vị trí chuỗi cung ứng này đến vị trí chuỗi cung ứng khác? Phân phối bằng hàng không và xe tải nói chung là nhanh chóng và đáng tin nhưng chúng thường tốn kém.
Vận chuyển bằng đường biển và xe lửa đỡ tốn kém hơn nhưng thường mất thời gian trung chuyển và không đảm bảo. Sự không đảm bảo này cần được bù bằng các mức độ trữ hàng tồn cao hơn. o Thông tin: Phải thu thập bao nhiêu dữ liệu và chia sẻ bao nhiêu thông tin? Thông tin chính xác và kịp thời sẽ giúp lời cam kết hợp tác tốt hơn và quyết định đúng hơn. Có được thông tin tốt, người ta có thể có những quyết định hiệu quả về việc sản xuất cái gì và bao nhiêu, về nơi trữ hàng và cách vận chuyển tốt nhất.
Tổng của các quyết định này sẽ xác định công suất và tính hiệu quả của chuỗi cung ứng của công ty. Những gì mà công ty có thể làm và các cách mà nó có thể thực hiện trong thị trường của nó đều phụ thuộc rất nhiều vào tính hiệu quả của chuỗi cung ứng. Nến chiến lược của một công ty là phục vụ một thị trường khổng lồ và cạnh tranh giá trần, tốt hơn hết công ty đó phải có một chuỗi cung ứng được tối ưu hóa với chi phí thấp nhất. Công ty là gì và công ty có thể làm gì đều được định hình bởi chuỗi cung ứng và thị trường mà công ty phục vụ.
Cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng trong lĩnh vực dệt may 1. Lý thuyết đường cong nụ cười: Hình 1.: Đường cong nụ cười thể hiện chuỗi giá trị ngành Dệt may Nguồn: VCOSA Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 8 Từ lâu, khoa học quản trị kinh doanh đã chia quá trình chế tạo và tiêu thụ sản phẩm ra thành 7 bước là (i) Nghiên cứu – Phát triển (R&D); (ii) Xây dựng thương hiệu; (iii) Thiết kế sản phẩm; (iv) Sản xuất; (v) Phân phối; (vi) Marketing; (vii) Bán hàng và dịch vụ hậu mãi. Trong ngành dệt may thì 7 bước ấy gồm: (i) R&D; (ii) Thiết kế sản phẩm; (iii) Mua sắm vật tư; (iv) Sản xuất; (v) Vận chuyển; (vi) Phân phối và (vii) Marketing (theo VCOSA). Đây là cốt lõi chuỗi giá trị của ngành.
Người ta đã nhận thấy nếu cùng một suất đầu tư cho các phân khúc trong chuỗi giá trị nêu trên thì khu vực sinh lời nhất là (i) và (vii); tiếp đến là (ii) và (vi); sau đó là (iii) và (v); cuối cùng là (iv). Lý thuyết này có thể áp dụng vào mỗi phân khúc trong chuỗi như kéo sợi, dệt vải hoặc trên toàn chuỗi để cho ra sản phẩm cuối cùng là quần áo, v. Các phương thức sản xuất: Có 4 phương thức tổ chức sản xuất với vị trí, vai trò và nhiệm vụ khác nhau, cụ thể như sau: Hình thức Công việc (theo Smiling Ghi chú curve) Sản xuất Thương hiệu gốc Chỉ làm (i) và (vii) Nhượng quyền thương hiệu (OBM – Original Branding Chỉ làm (i), (vi), (vii) Thuê ODM Manufacture) Chỉ làm (i), (ii), (vi), (vii) Thuê OEM Chỉ làm (i), (ii), (iii), (vi), Thuê CMT (vii) Sản xuất Thiết kế gốc (ODM Làm từ (ii), (iii), (iv) Làm cho OBM – Original Designing Chỉ làm (ii), (iii) Làm cho OBM và thuê CMT Manufacture) làm (iv) Sản xuất Thiết bị gốc (OEM Chỉ làm (iii) và (iv) Làm thuê cho OBM hoặc – Original Equipment ODM Manufacture) Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 9 Gia công (Processing), trong Chỉ làm (iv) Làm cho OBM, ODM hoặc lĩnh vực may thì được gọi là OEM CMT (Cut, Make, Trim) Nguồn: VCOSA Giá trị mang lại của mỗi phương thức sản xuất trên cũng rất khác nhau, cụ thể: Hình 1.