phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương, bao gồm: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận về chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng và các yếu tố liên quan đến chiến lược cạnh tranh của Công ty cổ phần Đầu tư Thái Dương Chƣơng 4: Đề xuất giải pháp và khuyến nghị 3 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu về chiến lược cạnh tranh Chiến lược cạnh tranh (CLCT) là một trong những chủ đề nghiên cứu quan trọng đối với các doanh nghiệp (DN). Tuy vậy, hiện nay tồn tại khá nhiều quan điểm và cách tiếp cận về CLCT khác nhau.
Trong đó phải kể đến nghiên cứu quan trọng đầu tiên của tác giả Porter (1980) với cuốn sách “Chiến lược cạnh tranh”. Đây là công trình nghiên cứu nổi tiếng thế giới về chiến lược nói chung và CLCT nói riêng. Nội dung cuốn sách tập trung làm rõ sự tồn tại của DN được quyết định bởi một trong hai yếu tố lợi thế gồm: chi phí thấp nhất và sự khác biệt hóa sản phẩm, từ đó tác giả đã phát triển thành ba loại hình CLCT chính cho các DN lựa chọn chính là: CLCT chi phí thấp, CLCT khác biệt hóa và CLCT tập trung. Tác giả đã phân tích về bản chất, đặc điểm, điều kiện phù hợp để lựa chọn và theo đuổi mỗi loại hình CLCT cũng như những thuận lợi và rủi ro đối với DN khi lựa chọn.
Đây được coi là một trong những công trình nghiên cứu quan trọng để có thể hình thành được hệ thống cơ sở lý luận cho NCS trong nghiên cứu đề tài luận án. Dựa trên kết quả nghiên cứu về CLCT của Porter (1980), đã có một số nhà nghiên cứu trên thế giới phát triển lý thuyết về CLCT như Gibert và Strerbel (1989), Treacy và Wiersema (1995), Hax và Wilde (2001)… Tuy nhiên hầu như các quan điểm về CLCT này đều có sự tương đồng về mặt ý tưởng đối với quan điểm của M. Porter đưa ra trước đây. Một quan điểm mới của Chan và Renee (2005) được đưa ra để bàn về CLCT theo một quan điểm khác so với cách tiếp cận truyền thống.
Trong công trình nghiên cứu “Chiến lược đại dương xanh” các tác giả đã trình bày những nguyên lý cơ bản về CLCT trong thời đại mới, trong đó giả định các DN hoạt động trong các ngành kinh doanh hiện thời được ví như đang tham gia vào “đại dương đỏ” và CLCT tốt nhất dành cho DN đó là “chiến lược đại dương xanh”. Cũng theo quan điểm này, thay vì chỉ cạnh tranh dựa trên một lợi thế cạnh tranh đặc thù là chi phí thấp hoặc khác biệt hóa, DN có thể sử dụng CLCT dựa trên cả hai nguồn của lợi thế cạnh tranh là cả chi phí thấp và khác biệt hóa, tuy nhiên phải đáp ứng được những điều kiện, và nguyên tắc cụ thể. Sau này, Sanchez và Heene (2004) trong nghiên cứu “Khái 4 luận về quản trị dựa trên năng lực: Nhận dạng và quản lý năng lực cạnh tranh” đã xây dựng lý thuyết mới về CLCT dựa trên năng lực cạnh tranh của DN. Trong đó nhấn mạnh sự cạnh tranh của DN dựa trên các yếu tố như sau: nguồn lực, thị trường và tương tác cạnh tranh.
Ở đó nhấn mạnh chiến lược khả thi phải bao gồm các nguồn lực, những khả năng của DN trong việc sử dụng nguồn lực, quy trình quản lý để xác định, xây dựng năng lực và một chiến lược xác định trong quá trình triển khai nhằm theo đuổi các mục tiêu chiến lược cụ thể. Về cơ bản, cạnh tranh dựa trên nguồn lực cho rằng sự thành công bền vững của DN là từ lợi thế so sánh các nguồn lực trong khi cạnh tranh dựa trên năng lực lại khẳng định sự thành công là đạt được mục tiêu (có thể bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau như cung cấp lợi ích kinh tế, môi trường làm việc, kinh nghiệm chuyên môn và các lợi ích khác là cơ sở cho sự phát triển của tất cả các bên liên quan, chứ không chỉ là các mục tiêu trong chiến lược để tối đa hóa lợi nhuận hoặc tối đa hóa lợi ích cổ đông). Năng lực cạnh tranh là cơ sở tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững của DN và trực tiếp phản ánh khả năng thay đổi trong cấu trúc nguồn lực của DN theo thời gian để thích nghi với môi trường. Tại Việt Nam, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về chủ đề chiến lược và CLCT của DN.
Tác giả Ngô Kim Thanh (2012), tác giả Nguyễn Hoàng Việt và Nguyễn Hoàng Long (2015) với giáo trình “Quản trị chiến lược” được sử dụng trong quá trình giảng dạy ở trường đại học. Đây là những công trình nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận một cách khoa học và hệ thống về chiến lược và CLCT của DN. Cùng chủ đề nghiên cứu này, đề tài luận án tiến sĩ “Giải pháp xây dựng chiến lược cạnh tranh của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trương Quang Thông (2004) xem xét vấn đề lựa chọn CLCT phù hợp cho các ngân hàng trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ. Tác giả sử dụng cách tiếp cận truyền thống trong xây dựng và phát triển cơ sở lý luận về CLCT của DN.
Trong đó, quy trình xây dựng CLCT của các ngân hàng bao gồm các nội dung: phân tích môi trường vĩ mô, phân tích môi trường ngành, phân tích mô hình chuỗi giá trị, phân tích năng lực cạnh tranh của DN và lựa chọn CLCT. Trong đó đề tài đã sử dụng các công cụ phổ biến trong phân tích và lựa chọn chiến lược như: ma trận hình ảnh cạnh tranh, ma trận SWOT, ma trận định hướng chiến lược QSPM. 5 để đề xuất xây dựng CLCT cho các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Như vậy, các nghiên cứu đã tổng quan về chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực thương mại dịch vụ. Các nghiên cứu về tác động của chiến lược cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Các nghiên cứu về tác động của CLCT đến hiệu quả kinh doanh của DN chủ yếu là các nghiên cứu nước ngoài. Trong đó mô hình đánh giá tác động chủ yếu tập trung xem xét tác động của các CLCT theo quan điểm của Porter ([126], 1980) đến hiệu quả tài chính của các DN. Đầu tiên phải kể đến Porter ([126], 1980) với nghiên cứu “Chiến lược cạnh tranh: Kỹ thuật phân tích ngành và đối thủ cạnh tranh” trong đó xem xét một cách tổng quan về mối quan hệ giữa CLCT và hiệu quả kinh doanh của DN.
Trong ba chiến lược được đưa vào nghiên cứu gồm: CLCT chi phí thấp, CLCT khác biệt hóa, CLCT tập trung đều giúp các DN cải thiện hiệu quả kinh doanh. Nghiên cứu này chỉ ra những DN không có CLCT rõ ràng (CLCT mắc kẹt) thường kéo theo sự sụt giảm về hiệu quả kinh doanh, trong khi CLCT khác biệt hóa và CLCT tập trung giúp DN có khả năng gia tăng về lợi nhuận, ROI còn lại CLCT chi phí thấp giúp các DN cải thiện tốt về doanh thu và thị phần trên thị trường. Sau này, một số nhà kinh tế học khác đã tiếp cận và phát triển lý thuyết này, điển hình là Wright ([152], 1987) trong nghiên cứu “Một số luận bàn về chiến lược cạnh tranh của Porter”. Tuy nhiên, theo tác giả này mối quan hệ giữa CLCT và hiệu quả kinh doanh của DN được chia thành ba vấn đề chính: (1) CLCT tập trung có mối quan hệ tác động cùng chiều với lợi nhuận và ROI của DN; (2) CLCT chi phí thấp và CLCT khác biệt hóa có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh là doanh thu và thị phần của DN và (3) CLCT mắc kẹt (CLCT không rõ rệt) có tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của DN.
Từ những nghiên cứu tiên khởi này, các nghiên cứu về tác động của CLCT đến hiệu quả kinh doanh của DN mới được triển khai ở các quốc gia, các ngành kinh doanh ở một số quốc gia trên thế giới. Jennings (2003) trong nghiên cứu “Mối quan hệ giữa chiến lược và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dịch vụ” xem xét mối quan hệ giữa CLCT (CLCT chi phí thấp, CLCT khác biệt hóa) và hiệu quả kinh doanh (ROI, ROS) của 410 DN dịch vụ trong các ngành ngân hàng, y tế, bảo hiểm và khách sạn. Kết quả 6 nghiên cứu định lượng của đề tài cho thấy, các CLCT đều có sự ảnh hưởng tích cực và giúp các DN này cải thiện hiệu quả kinh doanh. Trong đó, CLCT khác biệt hóa tạo ra mức độ ảnh hưởng và có khả năng nâng cao hiệu quả kinh doanh tốt nhất cho các DN kinh doanh dịch vụ.
Qua những công trình nghiên cứu trên có thể thấy CLCT là một chủ đề được quan tâm trong cả nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn. Tác giả luận văn kế thừa các lý thuyết từ những tài liệu trong và ngoài nước, đồng thời, sử dụng công cụ lý thuyết đó để ứng dụng vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp Thái Dương. Cơ sở lý luận về chiến lƣợc cạnh tranh 1. Khái niệm chiến lược kinh doanh Michael Porter định nghĩa chiến lược kinh doanh là một loạt sự kết hợp giữa những mục tiêu cần đạt tới và những phương tiện mà doanh nghiệp cần tìm để đạt tới mục tiêu; và quản trị chiến lược thể hiện tầm quan trọng của nó trong thực tiễn các hoạt động kinh doanh của công ty và là kim chỉ nam cho các hoạt động khác trong một tổ chức.
Ngoài ra, chiến lược kinh doanh (tiếng anh: Business Strategy) còn được hiểu là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. Có thể xem như là một kế hoạch dài hạn để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Chiến lược kinh doanh thể hiện thế mạnh của doanh nghiệp, các nguồn lực có thể huy động, các cơ hội cũng như điểm yếu và mối nguy phải đối mặt. Chiến lược kinh doanh là nội dung tổng thể trong một bản kế hoạch kinh doanh theo trình tự, bao gồm chuỗi các phương pháp, cách thức hoạt động kinh doanh xuyên suốt trong một thời gian dài.
Thuật ngữ này là một khái niệm thuộc khoa học chiến lược và cụ thể là ám chỉ chiến lược trong lĩnh vực kinh doanh.