Chương 1: Cơ sở lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chương 2: Phân tích các tiền đề nhằm xây dựng chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Chương 3: Đề xuất và lựa chọn chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào địa bàn tỉnh Hải Dương. 7 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TRỰC TIẾP VÀ CHIẾN LƢỢC THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.
Khái niệm về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) năm 1977: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) là một hoạt động đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm đạt đƣợc những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nƣớc chủ đầu tƣ, mục đích của chủ đầu tƣ là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Theo Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài của Liên Bang Nga (04/07/1991): Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là tất cả các hình thức giá trị tài sản và những giá trị tinh thần mà nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ vào các đối tƣợng sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác nhằm mục đích thu lợi nhuận. Theo Hiệp hội Luật quốc tế Henxitiky (1996 ): Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là sự di chuyển vốn từ nƣớc của ngƣời đầu tƣ sang nƣớc của ngƣời sử dụng nhằm xây dựng ở đó những xí nghiệp kinh doanh hay dịch vụ. Khái niệm của OECD: FDI là hoạt động đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tƣ mang lại khả năng tạo ảnh hƣởng đối với các việc quản lý doanh nghiệp nói trên.
Khái niệm của WTO: FDI xảy ra khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (nƣớc chủ đầu tƣ) có đƣợc một tài sản ở một nƣớc khác (nƣớc thu hút đầu tƣ) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phƣơng diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trƣờng hợp, cả nhà đầu tƣ lẫn tài sản mà ngƣời đó quản lý ở nƣớc ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trƣờng hợp đó, nhà đầu tƣ thƣờng hay đƣợc gọi là "công ty mẹ " và các tài sản đƣợc gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
8 z Theo Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 2005, FDI đƣợc hiểu là việc các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vốn bằng tiền hoặc bất cứ hình thức tài sản nào vào Việt Nam để tiến hành hoạt động đầu tƣ và có tham gia quản lý hoạt động kinh doanh. Ở đây hoạt động FDI có khác với các hình thức đầu tƣ nƣớc ngoài khác là có sự trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ. Nhƣ vậy, mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đƣa ra khái niệm về FDI, song ta có thể đƣa ra một khái niệm tổng quát nhất, đó là: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là hình thức mà nhà đầu tƣ bỏ vốn để tạo lập cơ sở sản xuất kinh doanh ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Trong đó, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài có thể thiết lập quyền sở hữu từng phần hay toàn bộ vốn đầu tƣ và giữ quyền quản lý, điều hành trực tiếp đối tƣợng mà họ bỏ vốn nhằm mục đích thu đƣợc lợi nhuận từ các hoạt động đầu tƣ đó trên cơ sở tuân theo quy định của Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài của nƣớc sở tại.
Các hình thức đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong thực tiễn Doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài (100% Foreign Cantrerisce): là doanh nghiệp thuộc sở hữu của chủ đầu tƣ nƣớc ngoài, do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thành lập tại nƣớc chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh nhƣng vẫn là pháp nhân của nƣớc chủ nhà và chịu sự kiểm soát của pháp luật nƣớc chủ nhà. Hợp đồng hợp tác kinh doanh CBC (Contractual-Business-Cooperation): là hình thức liên kết kinh doanh giữa hai hay nhiều bên trên cơ sở quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tƣ kinh doanh và không tạo lập một pháp nhân. Doanh nghiệp liên doanh (Joint Venture Enterprise): là hình thức kinh doanh quốc tế do hai bên hoặc các bên nƣớc ngoài cùng hợp tác với nƣớc chủ nhà trên cơ sở góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hƣởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro 9 z theo tỷ lệ góp vốn. Doanh nghiệp liên doanh đƣợc thành lập theo hình thức Công ty TNHH hoặc Công ty Cổ phần có tƣ cách pháp nhân theo pháp luật của nƣớc nhận đầu tƣ.
Đối với nhiều nƣớc đang phát triển trên thế giới, FDI dƣới dạng các hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO) hoặc hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT) cũng khá phổ biến. Dạng đầu tƣ này thƣờng áp dụng cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đòi hỏi số vốn lớn nhƣ xây dựng nhà máy điện, các công trình giao thông đƣờng bộ. ở Việt Nam dạng đầu tƣ nay còn chƣa nhiều. Dòng vốn Đầu tƣ nƣớc ngoài Dòng vốn chính thức Dòng vốn của tƣ nhân Viện trợ phát Viện trợ Các dòng vốn Đầu tƣ trực Đầu tƣ gián triển chính Tín dụng tƣ chính thức chính thức tiếp nƣớc tiếp nƣớc thức ODA nhân OA khác OOFs ngoài FDI ngoài FPI Hình 1.1: Các hình thức đầu tƣ nƣớc ngoài 1.
Những Yêu tố ảnh hƣởng tới thu hút vốn FDI Sau nhiều lần nghiên cứu phân tích, đánh giá lợi hại (đƣợc, mất) của nƣớc nhận đầu tƣ và ngƣời bỏ vốn đầu tƣ. Hội đồng kinh tế Brazin – Mỹ đã rút ra 10 z đƣợc yếu tố có ý nghĩa quyết định cho việc lựa chọn một vùng hay một nƣớc nào đó để đầu tƣ. Các chính sách Chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro: Tiền tệ ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Yếu tố đầu tiên ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu cho các nhà đầu tƣ.
Tý giá đồng bảng bị nâng cao hay hạ thấp đều ảnh hƣởng xấu đến hoạt động xấp nhập khẩu Chính sách thương nghiệp: Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt đối với vấn đề đầu tƣ trong lĩnh vực làm hàng xuất khẩu. Mức thuế quan cũng ảnh hƣởng tới giá thành xuất khẩu. Hạn mức xuất nhập khẩu cũng nhƣ có thể không kích thích hấp dẫn tới các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Chính yếu tố này làm phức tạp thêm cho thủ tục xuất khẩu và bị xếp hàng rào xuất khẩu khác.
Chính sách ưu đãi: Chính sách ƣu đãi thƣờng đƣợc áp dụng để thu hút các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Chính sách kinh tế vĩ mô: Chính sách này mà ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động các nhà đầu tƣ bản xứ lẫn nƣớc ngoài. Nếu không có những biện pháp tích cực chống lạm phát thì có thể các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thích bỏ vốn vào nƣớc này. Nếu giá cả tăng nhanh ngoài dự kiến thì khó có thể tiên định đƣợc kết quả kinh doanh.
Luật đầu tư Yếu tố này có thể làm hạn chế hay cản trở hoạt động của các công ty nƣớc ngoài trên thị trƣờng bản địa. Nhiều nƣớc mở cửa thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài theo điều kiện giống nhau cho các nhà đầu tƣ bản xứ. Ở Việt Nam, luật khuyến khích đầu tƣ nƣớc ngoài triển khai còn chậm và không đáp ứng đƣợc sự mong đợi bởi mức độ ƣu đãi và khuyến khích còn hạn chế, chƣa nhất quán.3 Các yêu tố ảnh hưởng khác Yếu tố hàng đầu là đặc điểm của thị trƣờng bản địa. Đặc điểm của thị trƣờng nhân lực: Công nhân lao động là mối quan tâm hàng đầu, đặc biệt với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài muốn bỏ vốn vào các lĩnh vực cần nhiều lao động, có khổi lƣợng sản xuất lớn.
Trình độ học vấn và nghề nghiệp của công nhân đầu đàn có ý nghĩa nhất định Khả năng hồi vốn đầu tƣ. Vốn và lợi nhuận đƣợc tự do qua biên giới là tiền đề quan trọng thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Bảo vệ quyền sở hữu: Quyền này gổm cả quyền ngƣời phát minh sáng chế, quyền tác giả, kể cả nhãn hiệu hàng hóa và bí mật thƣơng nghiệp. Nó có ý nghĩa lớn đối với những ngƣời đầu tƣ vào các nghành hàm lƣợng khoa học cao và phát triển năng động (Sản xuất máy tính, phƣơng tiện liên lạc.) Ổn định chính trị ở nƣớc muốn nhận đầu tƣ và các khu vực.
Là yếu tố không thể xem thƣờng vì một khi rủi ro chính trị có thể gây thiệt hại lớn. Cơ sở hạ tầng phát triển. Hạ tầng tốt, thuận lợi sẽ tăng ảnh hƣởng và sự hấp dẫn với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Vai trò của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 1.
Lợi ích của FDI Tạo việc làm: Với mỗi quy mô đầu tƣ và bản thân quy trình sản xuất khác nhau thì số lƣợng việc làm đƣợc tạo ra là khác nhau. Lợi ích phổ biến nhất gắn với FDI là việc làm gia tăng và đƣợc đảm bảo. Cùng với việc làm mới là thu nhập mới và sức mua bổ sung đối với những ngƣời dân địa phƣơng gia tăng. Bổ sung nguồn vốn: Vốn FDI không những là nguồn vốn bổ sung quan trọng mà nó còn đóng góp vào việc bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
12 z Tăng nguồn thu: FDI mở rộng cơ sở nguồn thu thuế của địa phƣơng và đóng góp vào ngân sách. Thậm trí các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc miễn hoàn toàn thuế trong một giai đoạn ngắn thông qua các ƣu đãi đầu tƣ, thì các chính phủ vẫn có thể có đƣợc nguồn thu gia tăng từ việc trả thuế thu nhập cá nhân bởi vì FDI tạo ra việc làm mới. Ngoài ra, đầu tƣ định hƣớng xuất khẩu tạo ra các khoản thu ngoại tệ. Tác động thuận lợi lên đầu tƣ trong nƣớc: Các dòng FDI vào có xu hƣớng dẫn đến sự gia tăng đầu tƣ trong nƣớc bởi vì các công ty dành đƣợc quyền tiếp cận đến các kênh phân phối do các TNC mở ra, trở thành các nhà cung cấp cho các TNC hoặc thích ứng cạnh tranh với các TNC.
Chuyển giao công nghệ: FDI có thể cải thiện quyền tiếp cận của đất nƣớc về công nghệ thông qua liên doanh và thƣơng mại địa phƣơng. Những ngƣời làm việc cho các TNC có thể nắm bắt đƣợc bí quyết mà họ có đƣợc và thành lập các công ty trong nƣớc đang hoạt động.