CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO ASEAN – HÀN QUỐC 1. Bối cảnh ra đời. Trong những năm gần đây, sự phát triển của hoạt động sản xuất, thương mại thế giới ngày càng cao, toàn diện, minh bạch, bền vững được thể hiện qua mức độ rộng hơn, cao hơn trong các thỏa thuận thương mại tự do, mà hiện nay gọi là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Cùng với xu hướng chung của thế giới, các nước châu A cũng đa và đang hướng đến nhiều thảo thuận liên kết khu vực và toàn cầu.
Các thành viên APEC hầu hết đều tham gia các thỏa thuận liên kết khu vực. Điển hình như Nhật Bản đã thực hiện FTA với Singapore năm 2002, Hàn Quốc đã đàm phán FTA với Chile năm 1999 nhưng đến năm 2004 hiệp định này mới có hiệu lực. FTA là một cộc mốc quan trọng trong sự phát triển của Hàn Quốc, vì thế Hàn Quốc rất cân nhắc khi lựa chọn đối tác FTA, với mong muốn đạt được lợi ích tối đa và giảm thiểu các tổn thất mà FTA mang lại. Thông qua hiệp định này, Hàn Quốc kỳ vọng sẽ đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao thông qua việc tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, tăng cường sức mạnh cạnh tranh với các đối tác trong khu vực và trên thế giới, thu hút đầu tư nước ngoài tăng.
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã tạo nên một liên kết khu vực giữa các quốc gia Đông Nam Á. Tuy rằng AFTA vẫn còn nhỏ bé và có những hạn chế nhất định so với EU hay NAFTA nhưng đây vẫn là đại diện cơ bản cho sự liên kết chung giữa các quốc gia đang phát triển trong khu vực này.Kể từ khi thành lập, AFTA đã cố gắng giải quyết các vấn đề còn yếu kém về tổ chức và quy mô hoạt động, đang ngày càng nỗ lực để phát huy năng lực của tổ chức, mở rộng hợp tác với các quốc gia Đông Bắc Á và đưa các thỏa thuận của mình ra khỏi biên giới Đông Nam Á. Hàn Quốc cũng dành cho ASEAN những quan tâm chặt chẽ đến quá trình hội nhập kinh tế và cả sự nỗ lực của khu vực trong việc xây dựng hợp tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ. Trong các thập kỷ qua, ASEAN – 4 Hàn Quốc được xem là những đối tác kinh tế quan trọng của nhau, thương mại, đầu tư song phương liên tục tăng nhanh.
Trên cơ sở sự phát triển quan hệ ngày càng lớn mạnh giữa ASEAN và Hàn Quốc, ngày 16/05/2006, tại Manila, Philipin, các Bộ trưởng Thương mại ASEAN (trừ Thái Lan) và Hàn Quốc đã ký Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA). Theo đó, Hàn Quốc sẽ loại bỏ hoàn toàn thuế đối với ít nhất 95% dòng thuế trong danh mục thông thường vào năm 2008, đến năm 2010 sẽ loại bỏ hoàn toàn thuế đối với danh mục thông thường. Hai bên nhận định rằng, AKFTA sẽ mang lại nhiều cơ hội buôn bán hàng hóa cũng như thúc đẩy hợp tác thương mại – đầu tư giữa ASEAN – Hàn Quốc và Hiệp định này là có lợi cho tất cả các đối tác liên quan. Việc đánh giá tác động của AKFTA không thể tiến hành một cách riêng rẽ.
Với mục tiêu đưa ra các khuyến nghị chính sách, việc đánh giá chỉ có ý nghĩa nếu xem xét trong tổng thể với các FTA khác của ASEAN bao gồm cả AFTA, cho dù các FTA này đang ở các giai đoạn khác nhau. Các FTA của ASEAN có nhiều quy định giống nhau vì chịu ảnh hưởng lớn bởi quy tắc của WTO cũng như các đòi hỏi và sức mạnh trên bàn đàm phán của các Đối tác đối thoại trong mỗi FTA. Mục đíchcủa đề án không chỉ nhấn mạnh những điểm mấu chốt của AKFTA mà cả những khía cạnh đặc trưng của Hiệp định này. Mục tiêu của Hiệp định.
Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) ra đời nhằm thực hiện các mục tiêu chính sau: Tăng cường trao đổi buôn bán trong nội bộ khối ASEAN – Hàn Quốc bằng việc loại bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Từ đó củng cố và tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa các Bên; Tự do hóa và thúc đẩy thương mại hàng hóa và dịch vụ cũng như tạo ra một chế độ đầu tư minh bạch, tự do và thuận lợi; Tìm ra những khu vực mới và có những biện pháp thích hợp để phát triển hợp tác kinh tế chặt chẽ và hội nhập hiệu quả;Hướng ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế, đặc biệt là xu thế tự do hoá thương mại thế giới. 5 Tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế hiệu quả hơn của các nước thành viên mới của ASEAN và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các thành viên trong khối; Thiết lập một khuôn khổ hợp tác để tăng cường hơn nữa quan hệ kinh tế giữa các Bên. Hiệp định AKFTA được ký kết đã đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia, tạo lập môi trường kinh tế ổn định và năng động để phát triển bền vững trong tương lai.Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN-Hàn Quốc trở thành một thị trường khu vực mậu dịch rộng mở, tạo cơ hội lớn cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong khu vực ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng.
Việc cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ hàng rào phi thuế theo Hiệp định sẽ tạo sức ép, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy các nước tham gia trong đó có Việt Nam triển khai các biện pháp nhằm giảm giá thành sản phẩm, tăng cường hiệu quả và tính cạnh tranh của nền kinh tế. Đây cũng là cánh cửa cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc. Quá trình đàm phán. Để tiến đến kí kết chính thức, AKFTA đã trải qua các quá trình đàm phán kéo dài trong vòng khoảng 2 năm: Tháng 09/2004: Đề xuất thiết lập Khu vực thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) tại Hội nghị tham vấn giữa các Bộ trưởng kinh tế ASEAN và Hàn Quốc diễn ra tại Jakarta, Indonesia.
Các nhà lãnh đạo đã đưa ra Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện giữa ASEAN và Hàn Quốc và quyết định tiến hành đàm phán AKFTA tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Hàn Quốc tại Lào vào tháng 11/2004; Tháng 11/2004: Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ X diễn ra tại Viên Chăn, Lào đưa ra quyết định đàm phán Hiệp định AKFTA bắt đầu từ đầu năm 2005; Từ đầu năm 2005: Ủy ban Đàm phán Thương mại ASEAN – Hàn Quốc (AKTNC) đàm phán Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế Toàn diện ASEAN – 6 Hàn Quốc, đồng thời đàm phán Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Hàn Quốc với mục đích thiết lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN – Hàn Quốc. Ngày 24/08/2006: Các Bộ trưởng Thương mại ASEAN (trừ Thái Lan) và Hàn Quốc chính thức ký kết AKFTA tại Ku-a-la Lăm-pơ, Malaysia. Bước tiếp theo: Các Bên sẽ tiến hành các thủ tục để phê chuẩn Hiệp định. AKFTA chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2007.
Nội dung chính của AKFTA. Sau Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) và Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), Việt Nam tham gia kí kết Hiệp định thương mạitự do thứ 3 là AKFTA. Hiệp định này tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam xúc tiến xuất khẩu sang Hàn Quốc – một thị trường tiềm năng của Việt Nam trong những năm gần đây. Về kết cấu của AKFTA, các thỏa thuận trên từng lĩnh vực và thời gian kí kết, thời gian bắt đầu có hiệu lực được thể hiện rõ qua bảng dưới đây: Bảng 1.
Kết cấu của AKFTA Thỏa thuận Ngày ký kết Ngày bắt đầu hiệu lực Thỏa thuận khung về Hợp tác 13/12/2005 01/07/2006 Kinh tế toàn diện Thương mại hàng hóa (AKTIG) 26/08/2006 01/06/2007 Phụ lục 1. Danh mục thông (trừ Thái Lan) (trừ Thái Lan) thường Phụ lục 2. Danh mục nhạy cảm Phụ lục 3. Quy tắc xuất xứ Thương mại dịch vụ (AKTIS) 21/11/2007 01/05/2009 Các phụ lục biểu cam kết cụ thể (trừ Thái Lan) của từng nước thành viên Đầu tư 02/06/2009 Cơ chế giải quyết tranh chấp 13/12/2005 01/07/2006 (DSM) Nguồn: Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế 7 AKFTA được phân thành 21 Điều, 04 Phụ lục (gồm Phụ lục 1 – Phương thức cắt giảm và Loại bỏ thuế quan đối với các dòng thuế nằm trong Lộ trình thông thường (NT), Phụ lục 2 – Phương thức cắt giảm và Loại bỏ thuế quan đối với các dòng thuế nằm trong Lộ trình nhạy cảm (ST), Phụ lục 3 – Quy tắc xuất xứ, Phụ lục 4 – Danh mục các Hiệp định đa phương về Thương mại hàng hóa và Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ như quy định tại các Phụ lục 1A và Phụ lục 1C của Hiệp định WTO).
Dưới đây là tóm tắt các nội dung chính của AKFTA: 1.1 Lịch trình cắt giảm và loại bỏ thuế quan Đây được xem là phần trọng tâm của Hiệp định, được quy định cụ thể tại Điều 3 (Cắt giảm và Loại bỏ thuế quan), Điều 6 (Sửa đổi các ưu đãi) và Phụ lục 1, 2 của Hiệp định. Theo quy định, thuế quan của toàn bộ sản phẩm được giảm hay loại bỏ theo hai lộ trình chính: (1) Lộ trình thông thường (NT) và (2) Lộ trình nhạy cảm (ST). Thuế suất các mặt hàng theo Lộ trình NT sẽ giảm dần xuống mức 0% vào năm 2010. Còn các mặt hàng trong Lộ trình ST sẽ không bị ràng buộc giảm thuế theo một lộ trình nào mà chỉ cần đáp ứng về mức thuế suất cuối cùng vào một thời điểm nhất định.
Nhóm nước CLMV được ưu tiên về lộ trình, thời hạn hoàn thành cắt giảm và loại bỏ thuế quan.1 Lộ trình thông thường (NT) Theo AKFTA, ASEAN – 6 (gồm Brunei, Malaysia, Indonesia, Philippin, Singapre và Thái Lan) và Hàn Quốc loại bỏ thuế quan cho hầu hết các mặt hàng thuộc Lộ trình NT xuống mức 0% vào năm 2010, với một số dòng thuế linh hoạt đến năm 2012. Cụ thể: Bảng 1.2 Lịch trình cắt giảm thuế quan của Hàn Quốc và ASEAN – 6 theo lộ trình thông thường.