mở đầu sự hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế quốc tế, thì khi trở thành thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam đã bắt đầu hội nhập đầy đủ vào đời sống chính trị quốc tế. Với vị thế và trọng trách này, Việt Nam không chỉ vươn lên tầm cao trong quan hệ đối ngoại, mà còn có tiếng nói quan trọng tại Liên hợp quốc - diễn đàn quốc tế đa phương lớn nhất trên hành tinh. Thông qua đó, Việt Nam có điều kiện thuận lợi tham gia giải quyết những vấn đề chính trị - xã hội, an ninh quốc tế có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp, đồng thời đóng góp tích cực hơn và nhiều hơn trong nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định và phát triển trên thế giới. Tiếp đến là Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản được ký vào năm 2008 và chính thức có hiệu lực từ 01/10/2009.
Đây là hiệp định thương mại tự do song phương đầu tiên của Việt Nam, hiệp định có nội dung toàn diện, bao gồm nhiều lĩnh vực như thương mại hàng hóa, thương mại dịch 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vụ, đầu tư và các hợp tác kinh tế khác giữa hai quốc gia. Hiệp định đã tạo thành một khuôn khổ pháp lý ổn định, thuận lợi cho hoạt động thương mại và đầu tư của hai nước. Việt Nam cũng đảm nhận thành công vai trò Chủ tịch ASEAN trong năm ASEAN 2010. Chặng đường hơn 25 năm đổi mới và hội nhập quốc tế là một quá trình nỗ lực bền bỉ của đất nước.
FTA Việt Nam-Chile chính thức có hiệu lực từ 01/01/2014. Đây là nước Mỹ La tinh đầu tiên Việt Nam ký kết FTA. Việc ký hiệp định này ngoài mục đích tăng cường tiếp cận thị trường Chile còn là cơ hội để hàng hóa Việt Nam thâm nhập các thị trường khác trong khu vực Mỹ La tinh rộng lớn. Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế có triển vọng thu hút đầu tư hấp dẫn nhất trên thế giới.
Bên cạnh các thị trường chủ lực là Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, Ôxtrâylia, hàng hóa Việt Nam đã vươn ra củng cố thế đứng trên nhiều thị trường khác như Nga, Trung Đông, Mỹ Latinh và châu Phi. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam ngày càng năng động tiếp thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh. Đồng thời, từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh, tạo tư duy làm ăn mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tóm lại, Hội nhập kinh tế quốc tế là cần thiết và tất yếu để phát triển trong một thế giới toàn cầu hoá.
Đây là một quá trình đan xen của những cơ hội và thách thức. Các doanh nghiệp cần nhận thức rõ về quá trình này, nắm bắt kỹ các cam kết và lộ trình hội nhập của ta để chuẩn bị vào cuộc một cách chủ động. Quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam và Nhật Bản là những quốc gia hình thành và phát triển từ các nền văn minh phương Đông, do đó hai dân tộc có nhiều điểm tương đồng trong lối sống, cách tư duy. Sự tương đồng đó là nhân tố quan trọng đối với quá trình phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai nước.
Việt Nam và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/9/1973. Sau năm 1975, Việt Nam và Nhật Bản lập đại sứ quán ở mỗi nước, ký thỏa thuận về việc Chính phủ Nhật Bản bồi thường chiến tranh cho Việt Nam với danh nghĩa viện trợ không hoàn lại trị giá 13,5 tỷ yên (khoảng 49 triệu USD) [14]. Từ năm 1992 đến nay, quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa hai nước không ngừng được củng cố, phát triển mạnh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục… Năm 2002, lãnh đạo cấp cao hai nước thống nhất xây dựng quan hệ Việt Nam - Nhật Bản theo phương châm “đối tác tin cậy, ổn định lâu dài”. Việt Nam và Nhật Bản còn tạo dựng cơ chế đối thoại ở nhiều cấp.
Nhật Bản ủng hộ đường lối đổi mới, mở cửa của Việt Nam; hỗ trợ Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới thông qua các tổ chức quốc tế như APEC, WTO, ASEM, ARF; vận động Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) giúp Việt Nam về kỹ thuật. Hai bên ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế quan trọng, trong đó có Liên hợp quốc. Nhật Bản là một trong những đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Hai nước đã dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ năm 1999.
Đặc biệt, ngày 01/10/2009, Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản (VJEPA) chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ hợp tác kinh tế hai nước. Cùng với Hiệp định đối tác toàn diện Nhật Bản-ASEAN (AJEPA), VJEPA tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho phát triển quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về thương mại: Nhật Bản luôn là một trong những đối tác hàng đầu của Việt Nam, hiện đang đứng thứ 2 sau Trung Quốc. Kể từ đầu thập niên 1990 đến nay, Nhật Bản đã nhanh chóng vượt lên trở thành bạn hàng, thị trường lớn nhất của Việt Nam.
Trong giai đoạn 2000-2005, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản tăng gần 2 lần (từ 4,871 tỷ USD năm 2000 lên 8,503 tỷ USD năm 2005) [14]. Năm 2006, trao đổi thương mại song phương đạt 9,932 tỷ USD; năm 2007 đạt 12,246 tỷ USD, tăng 23,3% so với năm 2006. Năm 2008, kim ngạch mậu dịch hai nước đạt mức kỷ lục 17,3 tỷ USD và năm 2009 đạt 13,76 tỷ USD [14]. Theo số liệu thống kê được công bố gần đây của Tổng cục Hải quan, kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam - Nhật Bản trong năm 2013 đạt 24,3 tỷ USD, tăng 2,4% so với năm 2012.
Trong đó, Việt Nam đã xuất khẩu hàng hóa sang thị trường này 13,7 tỷ USD hàng hóa, tăng 4,5 % so với kết quả của một năm trước đó. Trong khi đó, nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam có xuất xứ từ Nhật Bản đạt trị giá 11,6 tỷ USD, không thay đổi so với năm 2012. Số liệu trong hình 1 dưới đây cho thấy tính từ năm 2009 đến năm 2013, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này đã cao gấp 2,15 lần; trong khi đó sau 5 năm thì nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam từ Nhật Bản chỉ gấp 1,55 lần. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thƣơng mại giữa Việt Nam và Nhật Bản giai đoạn năm 2009-2013 (Nguồn: Tổng cục Hải quan – năm 2014) Trong những năm gần đây, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam luôn ở trạng thái xuất siêu (thặng dư) trong buôn bán với Nhật Bản.
Năm 2011, nước ta xuất siêu 0,4 tỷ USD; chuyển sang năm 2012 con số này đã là 1,5 tỷ USD và năm 2013 Việt Nam đã xuất siêu sang thị trường Nhật Bản trị giá 2,1 tỷ USD, tăng mạnh 40% so với con số ghi nhận được trong năm 2012. Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Nhật Bản bao gồm thủy sản, dệt may, dầu thô, cáp điện, than đá, đồ gỗ. Những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Nhật Bản gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, sắt thép các loại, vải các loại, linh kiện ôtô, nguyên liệu dệt, da. Trong những năm gần đây, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đã có sự thay đổi rõ rệt.
Việt Nam đã xuất khẩu sang 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhật Bản hoa tươi, hàng may mặc cao cấp, thực phẩm chế biến, hàng công nghiệp nhẹ như may mặc, cơ khí, đóng tàu… Về đầu tư: Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến tháng 3/2014, các nhà đầu tư Nhật Bản có 2.237 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 35,38 tỷ USD, là nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam trong tổng số 101 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Quy mô vốn bình quân một dự án của Nhật Bản là 15,8 triệu USD/dự án, cao hơn so với mức bình quân chung một dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (là 14,58 triệu USD/dự án). Về hợp tác công nghiệp: Nhật Bản hiện là đối tác hàng đầu của Việt Nam với những tiềm năng của một nước có công nghệ nguồn, đặc biệt là công nghiệp chế tạo. Điểm nổi bật là hai Thủ tướng đã ký các thỏa thuận về hợp tác xây dựng lò phản ứng của Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 2 và hợp tác khai thác, chế biến đất hiếm mỏ Đông Pao (Lai Châu).
Năm 2011, Nhật Bản phải chịu đại thảm họa động đất, sóng thần và khủng hoảng hạt nhân trầm trọng, nhưng quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, công nghiệp và đầu tư giữa hai nước vẫn phát triển mạnh mẽ. Về viện trợ phát triển chính thức (ODA): Nhật Bản là nước viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam. Từ năm 1992 đến nay, Nhật Bản đã cam kết khoảng 16 tỷ USD ODA cho Việt Nam, trong đó riêng tài khóa 2009, khoản vay của Nhật Bản dành cho Việt Nam đạt 145,613 tỷ yên, mức cao nhất từ trước đến nay với tỷ lệ giải ngân là 13,8%. Khái quát nội dung Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản 1.
Quá trình ký kết Hiệp định Trong chuyến thăm cấp cao Nhật Bản của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng năm 2006, Lãnh đạo hai nước đã đồng ý khởi động đàm 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phán Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ giữa hai nước. Ngày 25 tháng 12 năm 2008, Việt Nam và Nhật Bản đã chính thức ký Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA). Hiệp định này, cùng với các thoả thuận kinh tế đã ký trước đó, đã tạo thành một khuôn khổ pháp lý ổn định, thuận lợi cho hoạt động thương mại và đầu tư giữa doanh nghiệp hai nước. Hiệp định có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 2009.