CHƯƠNG I 14 Tieu luan CÁC QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1 Định nghĩa chung Theo Hiệp định này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. “Tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân” là loại tàu ngầm, không phải vũ khí, vận hành nhờ năng lượng sinh ra từ phản ứng hạt nhân bên trong lò phản ứng hạt nhân của tàu. “Nghiệp vụ” là những kỹ năng, trình độ, kiến thức chuyên môn về thiết kế, sắp xếp, phát triển, sản xuất, thử nghiệm, vận hành, quản lý, bảo trì hoặc sửa chữa của tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. “Thông tin về tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân” là những thông tin về thiết kế, sắp xếp, phát triển, sản xuất, thử nghiệm, vận hành, quản lý, bảo trì hoặc sửa chữa của tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân; bao gồm thông tin tuyệt mật và thông tin chưa được phân loại.
“Thông tin tuyệt mật” không kể những hình thức khác, là dữ liệu, các bản báo cáo, hồ sơ, tài liệu, bao gồm cả thông tin điện tử, được một hay nhiều Bên coi là thông tin nhạy cảm phải được bảo vệ tuyệt đối và hạn chế quyền truy cập. “Thông tin chưa được phân loại” không kể những hình thức khác, là dữ liệu, các bản báo cáo, hồ sơ, tài liệu, bao gồm cả thông tin điện tử, không phải thông tin mật nhưng được luật pháp quốc gia thuộc một hay nhiều Bên quy định phải được bảo vệ và hạn chế quyền truy cập. Quyền truy cập đối với những thông tin trên chỉ được trao cho các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền theo quy định của luật pháp quốc gia thuộc mỗi Bên. “Người” được hiểu là cá nhân, cơ quan, tổ chức, hoặc pháp nhân.
Phân tích Điều 1: 15 Tieu luan Trong Công ước Viên 1969 không có quy định điều khoản về định nghĩa là một phần bắt buộc của điều ước quốc tế. Tuy nhiên sự hiện diện của một điều khoản như vậy sẽ giúp làm sáng tỏ ý nghĩa của các điều khoản cụ thể trong một điều ước, đảm bảo sự rõ ràng trong ngôn ngữ được sử dụng và tránh gây ra hiểu nhầm hay tranh cãi trong việc diễn giải hay thực thi Hiệp định. Tất cả những thuật ngữ được định nghĩa trong điều khoản này đều đã xuất hiện trong văn bản và vì bản chất phức tạp, có thể có nhiều cách hiểu của chúng nên các thuật ngữ trên được nhóm cho rằng cần có định nghĩa rõ ràng. Điều 27 Mục đích Hiệp định này nhằm mục đích thúc đẩy và phát triển sự hợp tác trong lĩnh vực an ninh quốc phòng như trao đổi kinh nghiệm và chuyên môn cũng như hợp tác chặt chẽ trong các lĩnh vực khác nhau của các hoạt động an ninh quốc phòng.
Phân tích Điều 2: Điều 2 xác định mục tiêu của Hiệp định là nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng được ghi nhận trong Tuyên bố chung ngày 20/11/2022 của ba Bên như sau: i.quyết tâm tăng cường hợp tác ngoại giao, an ninh và quốc phòng trong khu vực,. “chúng tôi sẽ tăng cường khả năng của mỗi bên trong hỗ trợ thực hiện các lợi ích an ninh và quốc phòng của nhau" iii. “chúng tôi sẽ đẩy mạnh việc chia sẻ thông tin và công nghệ tới nhau…” 7 Cơ sở trong Tuyên bố chung ngày 20/11/2022: i.quyết tâm tăng cường hợp tác ngoại giao, an ninh và quốc phòng trong khu vực,. “chúng tôi sẽ tăng cường khả năng của mỗi bên trong hỗ trợ thực hiện các lợi ích an ninh và quốc phòng của nhau" iii.
“chúng tôi sẽ đẩy mạnh việc chia sẻ thông tin và công nghệ tới nhau…” 16 Tieu luan Đồng thời nêu cụ thể trong mục tiêu lớn này bao gồm hai mục tiêu nhỏ hơn như: (i) trao đổi kinh nghiệm và chuyên môn và (ii) hợp tác chặt chẽ trong các lĩnh vực khác nhau của các hoạt động an ninh quốc phòng. Điều 38 Phạm vi Hiệp định Các Bên sẽ thúc đẩy và phát triển sự hợp tác trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng bằng cách xem xét khả năng hợp tác theo các nguyên tắc tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Phân tích Điều 3: Mục đích quan trọng của điều khoản này là thiết lập phạm vi áp dụng của Hiệp định này là trên các lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc phòng. Điều này nghĩa là Hiệp định chỉ điều chỉnh những vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng.
Tất cả những điều khoản thuộc Hiệp định này và những thỏa thuận sau này dựa trên Hiệp định này được áp dụng trên lĩnh vực an ninh quốc phòng và các lĩnh vực liên quan. Đồng thời, điều khoản xác định các nguyên tắc làm cơ sở cho sự hợp tác của các Bên trong khuôn khổ Hiệp định này. Điều 49 Lĩnh vực hợp tác Trong phạm vi luật pháp quốc gia hiện hành của mình, các Bên sẽ đẩy mạnh sự hợp tác trong các lĩnh vực liên quan tới an ninh và quốc phòng, bao gồm các lĩnh vực chính sau: 8 Cơ sở trong Tuyên bố chung ngày 20/11/2022: i. “Và đặc biệt, chúng tôi sẽ hợp tác sâu rộng hơn rất nhiều trong một loạt các lĩnh vực liên quan đến an ninh và quốc phòng”; ii.
“được định hướng bởi các cam kết chung đối với trật tự dựa trên pháp quyền quốc tế, luật lệ quốc tế,. “Việc phát triển các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân của quốc gia AS sẽ là nỗ lực chung giữa ba quốc gia, tập trung vào khả năng tương tác, tính tương đồng và cùng có lợi.” 9 Cơ sở trong Tuyên bố chung ngày 20/11/2022: i. “Chúng tôi sẽ thúc đẩy sự kết nối chặt chẽ hơn các cơ sở khoa học, công nghệ, công nghiệp và chuỗi cung ứng liên quan đến an ninh và quốc phòng”; ii. “Những nỗ lực ban đầu này sẽ tập trung vào các lĩnh vực không gian mạng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử và đáy đại dương.” 17 Tieu luan (a) Khoa học, công nghệ, công nghiệp và chuỗi cung ứng liên quan đến an ninh và quốc phòng; (b) Không gian mạng; (c) Trí tuệ nhân tạo; (d) Công nghệ lượng tử; (e) Đáy đại dương.
Phân tích Điều 4: Cơ sở trong Tuyên bố chung ngày 20/11/2022: i. “Chúng tôi sẽ thúc đẩy sự kết nối chặt chẽ hơn các cơ sở khoa học, công nghệ, công nghiệp và chuỗi cung ứng liên quan đến an ninh và quốc phòng”; ii. “Những nỗ lực ban đầu này sẽ tập trung vào các lĩnh vực không gian mạng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử và đáy đại dương.” Điều khoản này để liệt kê các lĩnh vực liên quan đến an ninh và quốc phòng mà các Bên đã cam kết hợp tác (theo Tuyên bố chung ngày 20/11/2022). Cam kết này có sự khác biệt so với cam kết “hỗ trợ AS mua tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân” giữa ba quốc gia, và sự khác biệt này là lý do tại sao cam kết hỗ trợ AS mua tàu ngầm có hẳn một chương riêng, trong khi những lĩnh vực này chỉ được đề cập tới trong một điều khoản của Hiệp định.
Sự khác biệt đó là tính chi tiết giữa hai cam kết trong Tuyên bố chung. - Nội dung của cam kết hỗ trợ mua tàu ngầm được các quốc gia đề cập tới rất chi tiết, bao gồm những nội dung về nghĩa vụ và quyền của các quốc gia (nhất là nghĩa vụ của AS về tuân thủ các điều ước quốc tế liên quan khác). Điều này thể hiện rằng đây là chi tiết cần được chú tâm nhất trong Tuyên bố chung, do vậy, đây cũng sẽ là chi tiết cần được chú tâm nhất trong điều ước quốc tế phản ánh Tuyên bố chung này là Hiệp định này. - Trong khi đó, nội dung về cam kết hợp tác tại các lĩnh vực được đề cập tới rất ngắn gọn và bằng những từ ngữ không rõ ràng như: “sẽ tăng cường khả năng của mỗi bên trong hỗ trợ thực hiện các lợi ích an ninh và quốc phòng của 18 Tieu luan nhau”, “đẩy mạnh việc chia sẻ thông tin và công nghệ với nhau”, “thúc đẩy sự kết nối chặt chẽ hơn các cơ sở khoa học, công nghệ, công nghiệp và chuỗi cung ứng liên quan đến an ninh và quốc phòng”.
➔ Các thành viên trong nhóm quyết định để trọng tâm chính của Hiệp định là cam kết hỗ trợ AS mua tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, và chỉ đề cập tới những cam kết khác ở Điều 4. Điều 5 Thực thi Hiệp định 1. Các Bên sẽ tiến hành các biện pháp cần thiết để thực hiện hữu hiệu các điều khoản trong Hiệp định này và tuân thủ tất cả các nghĩa vụ theo Hiệp định. Nếu một trong các Bên cho rằng việc thực thi yêu cầu của một hay các Bên còn lại có thể gây phương hại đến nền an ninh quốc phòng của quốc gia mình hoặc trái với các quy phạm mệnh lệnh bắt buộc chung của luật quốc tế, thì có thể từ chối toàn bộ hoặc một phần yêu cầu, hoặc có thể đưa ra các điều kiện cho việc thực thi yêu cầu đó.
Bên yêu cầu sẽ được thông báo về nguyên nhân của việc từ chối thực thi yêu cầu. Phân tích Điều 5: Nội dung điều khoản trên có cơ sở pháp lý trong Công ước Viên 1969 là: - “Điều 53. Các điều ước xung đột với một quy phạm bắt buộc của pháp luật quốc tế chung Mọi điều ước mà khi được ký kết xung đột với một quy phạm bắt buộc của pháp luật quốc tế chung đều là vô hiệu. Nhằm mục đích của Công ước này, một quy phạm bắt buộc của pháp luật quốc tế chung là một quy phạm được toàn thể cộng đồng các quốc gia chấp thuận và công nhận là một quy phạm không thể vi phạm và chỉ có thể sửa đổi bằng một quy phạm mới khác của pháp luật quốc tế chung có cùng tính chất.
Nảy sinh một quy phạm mới bắt buộc trong pháp luật quốc tế chung (Jus cogens) 19 Tieu luan Nếu một quy phạm mới bắt buộc của pháp luật quốc tế chung nảy sinh, thì mọi điều ước hiện hữu mâu thuẫn với quy phạm đó sẽ trở thành vô hiệu và sẽ chấm dứt. Các quy định của luật trong nước về thẩm quyền ký kết các điều ước 1. Việc một quốc gia đồng ý chịu sự ràng buộc của một điều ước được thể hiện trái với một quy định của luật trong nước về thẩm quyền ký kết điều ước sẽ không thể được nêu lên như là một khiếm khuyết của việc đồng ý của họ, trừ khi sự vi phạm đó là quá rõ ràng và liên quan đến một quy phạm có tính chất cơ bản của luật trong nước của quốc gia đó.