Chương 1: Cơ sở lý luận và những nhân tổ tac động Nội dung chương nay tác giả dé cập đến các yếu tô (i) Cơ sở lý luận gồm khái niệm về “bẫy nợ” và “các quan điểm về chính sách bẫy nợ trong Sáng kiến BRI của Trung Quốc” nhằm làm rõ các khái niệm mà các nước, tô chức, học giả, cá nhân trên thế giới đặt ra về chính sách bẫy nợ của Trung Quốc; (ii) Những nhân tố tác động hình thành nên chính sách bẫy nợ của Trung Quốc trong Sáng kiến BRI gồm các nhân tố bên ngoài và bên trong. Triển khai chính sách bay nợ trong Sáng kiến Vanh dai-Con đường của Trung Quốc. Trong chương này tác giả đi sâu phân tích về các biện pháp mà Trung Quốc sử dụng để triển khai chính sách bẫy nợ của mình ở trong và ngoài nước. Thông qua đó chỉ ra tác động, ảnh hưởng mà chính sách vay nợ của Trung Quốc mang đến cho các quốc gia nằm trong Sáng kiến BRI, trong đó có Việt Nam.
Một số đánh giá về chính sách bây nợ trong Sang kiến Vanh dai-Con đường và kiến nghị doi nghị Việt Nam. Trong chương nay, tác giả tập trung đi sâu, phân tích đánh giá của các nước đối với chính sách bay nợ của Trung quốc thông qua BRI. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị chính sách đối với Việt Nam trong quá trình tham gia vào Sáng kiến BRI nhằm phát triển kinh tế-xã hội trong thời gian tới. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG NHÂN TÓ TÁC ĐỘNG 1.
Các khái niệm về chính sách bẫy nợ No (debt) là số tiền một cá nhân, công ty. đã vay người khác. Các khoản nợ phát sinh từ việc các chủ thé này vay tiền dé mua hàng hóa, dịch vụ hoặc tài sản. Các chứng chỉ nợ là bằng chứng để lấy lại số tiền cho vay, bao gồm cả lãi suất trong thời hạn vay.
Có nhiều kiểu nợ khác nhau, tuy nhiên nợ có 4 kiểu cơ bản là: vay nợ, nợ tập đoàn, trái phiếu và giấy hẹn trả tiền. Các khoản nợ có giá trị lớn thường được đảm bảo bằng các khoản thế chấp hoặc lãi suất chứng khoán của tài sản người đi vay, trong đó người cho vay có thê có một số quyền hạn nhất định đối với tài sản đó khi người đi vay không có khả năng trả nợ hay vỡ nợ [Nguyễn Văn Học, 2006]. Cho đến nay, chưa tổ chức nghiên cứu nào đưa ra định nghĩa về chính sách bẫy nợ của Trung Quốc, nhưng dựa vào trường hợp các quốc gia vay nợ trong BRI hiện nay, một bẫy nợ được hình thành khi hội tụ đủ bốn yếu tố: (i) các khoản vay lớn, (ii) lãi suất cao, (iii) vay trong thời gian ngắn (10-15 năm), it ân hạn dé phục vụ xây dựng hệ thống cơ sở hạ tang dẫn đến việc quốc gia mat khả năng trả nợ va (iv) dùng các nguồn lực khác (tai nguyên, chủ động về chính sách, ủng hộ về chính trị.) dé trả nợ. “Chính sách bẫy nợ” được một số nhà nghiên cứu của Trường đại học Harvard giải thích “là một kỹ nghệ đang được Trung Quốc gia tăng áp dụng dé tận dụng các khoản nợ cộng dồn lại, từ đó đạt được các mục tiêu chiến lược mà Trung Quốc đã dat ra [Parker, S.
Theo đó, cách thức thực hiện chính sách bay nợ này được cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Rex Tillerson tóm tắt: “Khuyến khích sử dụng các hợp đồng không rõ ràng, thực hiện các khoản vay mang tính chất cưỡng đoạt, đi đến các thoả thuận bằng các phương cách tham nhũng, từ đó đây các quốc gia vay 15 mượn lún sâu vào no nan, từ đó họ phải bán rẻ chủ quyền của chính họ. Thuật ngữ “Chính sách bay nợ” hình thành và được sử dung sau khi nhiều chuyên gia nghiên cứu quốc tế nhận ra việc dé vay được tiền từ Trung Quốc cho các dự án cơ sở hạ tang quy mô lớn nằm trong BRI, nhiều nước đã phải “thế chấp” bằng cảng biển, tài nguyên, mỏ khoáng sản hoặc những tài sản của quốc gia có giá trị chiến lược. Chính sách của Trung Quốc được coi là bay nợ vì khi các nước không thé chi trả các khoản nợ không 16 của mình cho Trung Quốc, họ phải chịu áp lực từ phía Trung Quốc và phải nhún nhường tạo điều kiện, hỗ trợ cho Trung Quốc trong các van dé liên quan đến lợi ích chiến lược tại khu vực. Mặt khác, Trung Quốc cũng đã tận dụng điều này dé gia tăng sức ép với các nước dé đạt được mục đích chính tri, quân sự, phù hợp với các chính sách của Trung Quốc, từng bước mở rộng ảnh hưởng hơn nữa ra ngoài khu vực.
Các nhà phân tích phương Tây đã cho rằng chính sách bẫy nợ của Trung Quốc có thể che giấu ý định bá quyền và thách thức đối với chủ quyền của các quốc gia. Chính sách này cũng bị cáo buộc áp đặt các giao dịch tài chính và thương mại không công băng vì các quốc gia thiếu tiền mặt không thê từ chối tiền của Trung Quốc. Báo The Straits Times của Singapore số ra ngày 19/01/2018 nói rõ hơn: “Bằng cách làm cho các quốc gia trở nên phụ thuộc vào Trung Quốc về mặt tài chính, chính sách ngoại giao bẫy nợ (debt-trap diplomacy) tỏ ra rất hiệu quả trong việc cho phép Bắc Kinh cùng lúc đạt được nhiều mục tiêu chỉ thông qua các phương tiện kinh tế đơn thuần: xác lập thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc, giành quyên tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, bảo đảm sự ủng hộ của nước vay nợ cho những lợi ích địa chiến lược của Bắc Kinh và giành lợi thế so sánh so với các đối thủ cạnh tranh như Mỹ, An Độ, Nhật Bản hoặc Úc”. 16 Trong nhiều năm nghiên cứu về Trung Quốc, Tiến sỹ Phạm Sỹ Thành, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc thuộc VEPR (VCES) đã chỉ ra bảy nguyên nhân khiến các khoản vay của Trung Quốc trở thành “bay nợ” như sau: (i) Trung Quốc thường không ngại rủi ro lớn và chấp nhận cho các nước có xếp hạng tín nhiệm rất thấp vay vốn; (ii) nhiều quốc gia nằm trong BRI sau khi vay vốn cũng không đủ khả năng đưa ra các đánh giá tác động của dự án, và trong một nên chính trị tràn ngập tham nhũng với chat lượng quan tri yếu kém, lãnh đạo các địa phương có thé tìm đến BRI dé trục lợi cho địa phương và cá nhân; (iii) Trung Quốc thiếu kinh nghiệm cho vay và thường cho vay với các tiêu chuẩn khác biệt với thông lệ/tiêu chuẩn quốc tế; (iv) khác với các ngân hang phát triển đa phương, Trung Quốc không cung cấp báo cáo về các khoản cho vay theo quốc gia, càng không tiết lộ thông tin về điều khoản vay vốn, điều này tạo thêm điều kiện cho tham nhũng; (v) Trung Quốc không chính thức tham gia vào bat kỳ cơ chế đa phương nào dé xử lý van đề nợ công hoặc điều phối cùng các chủ nợ chủ chốt khác; (vi) chi phí vay vốn của Trung Quốc ở mức rất cao; (vii) các nước vay nợ Trung Quốc cho các dự án không có hiệu quả kinh tế rõ ràng [Phạm Sỹ Thành, 2019].
Các quan điểm về chính sách bẫy nợ trong Sáng kiến Vành dai- Con đường Chính sách bẫy nợ được thảo luận rộng rãi với hàm ý Trung Quốc đưa các nước vào các dự án khổng 16, tạo ra gánh nặng vượt qua khả năng chi trả của quốc gia dẫn đến sự phụ thuộc chính sách vào ý muốn của Trung Quốc. Mặc dù, chính sách bẫy nợ là một khái niệm còn gây nhiều tranh cãi, nhưng nghiên cứu về “làn sóng xét lại” đối với dự án sử dụng vốn vay Trung Quốc có thé thấy nỗi lo về nợ không trả được ngày càng trở thành quan ngại. Một nghiên cứu của Trường Kinh doanh Saïd, thuộc Đại học Oxford/Anh đã cho thấy dựa trên 95 siêu dự án trị giá 52 tỷ USD của Trung Quốc được xây dựng trong giai đoạn 1984-2008 và 806 dự án cơ sở hạ tầng 17 của các nước phát triển cho thấy ba kết luận quan trong: (i) chi phí xây dựng của Trung Quốc đắt hơn 30,6% so với dự toán; (ii) 55% các công trình của Trung Quốc không mang tính kinh tế liên quan đến vòng đời vận hành của chúng va (iii) 17% số dự án có lợi nhuận/vốn thấp hon dự tính. Hàm ý chính sách của nghiên cứu này chỉ ra rằng việc đầu tư cơ sở hạ tầng quy mô lớn dường như chỉ đem lại tăng trưởng kinh tế đối với Trung Quốc vì nước này có điều kiện đặc thù (quy mô kinh tế đủ lớn và đầu tư phát triển không phải đi vay nước ngoài).
Nó nhấn mạnh răng, việc đi vay Trung Quốc là chính phủ mắc nợ, lợi nhuận rơi vào tay các công ty của Trung Quốc, còn mức độ cải thiện đời sống của người dân địa phương lại không rõ ràng. Về những nguyên nhân khiến các khoản vay từ Trung Quốc dễ trở thành gánh nặng không thê hoàn trả đối với các nước nghẻo, có trình độ quản trị thấp trước hết là Trung Quốc thường cho các nước có xếp hạng tín nhiệm rất thấp dé vay vốn. Năm 2017, tổ chức xếp hang tín nhiệm quốc tế Fitch đã công bố một bản báo cáo cho rằng kế hoạch đầu tư khoảng 900 tỷ USD vào hệ thống cơ sở hạ tang các quốc gia mới nồi của Trung Quốc trong BRI có thé không thu được lợi nhuận đồng thời khiến hệ thống ngân hàng Trung Quốc xuất hiện thêm các khoản nợ xấu mới. Đây là một rủi ro tài chính cần xem xét thận trọng.
Bản báo cáo này cho rằng, mục đích chính trị của các dự án có thể lấn át logic thương mại và nhu cầu thực tế về cơ sở hạ tầng. “Flitch đặt câu hỏi về việc liệu các ngân hàng thương mại của Trung Quốc có thể bóc tách những dự án có lợi và khống chế rủi ro với các ngân hàng thương mại quốc tế và các định chế tài chính đa phương có kinh nghiệm huy động vốn cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng tại các thị trường mới nồi hay không” [Financial Times, 2017]. Các quốc gia năm trong BRI được xếp hang tín nhiệm của Fitch chỉ dao động từ B đến BB. Trung Quốc thường bị coi là quá mạo hiểm trong hoạt động đầu tư.
Trong giai đoạn 2013-2015, có 6/10 quốc gia được Trung Quốc 18 cấp tín dụng phát triển nằm trong danh sách bị OECD đánh giá có mức “rất rủi ro” về đầu tư phát triển, trong khi con số này của WB chỉ là hai quốc gia. Giá trị rủi ro bình quân trọng số của Trung Quốc cũng cao hơn 20% so với các khoản cho vay phát triển của WB.