phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các từ viết tắt, đề tài chia thành 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển ngành thƣơng mại dịch vụ Chƣơng 2: Thực trạng phát triển thƣơng mại dịch vụ trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên. Chƣơng 3: Một số nhóm giải pháp đẩy mạnh phát triển thƣơng mại dịch vụ trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên. 6 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƢƠNG MẠI DỊCH VỤ 1.
Ngành thƣơng mại dịch vụ 1. Khái niệm, đặc trƣng ngành thƣơng mại dịch vụ 1. Khái niệm a) Thương mại: Thƣơng mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hoá, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ,. giữa hai hay nhiều đối tác và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hoá, dịch vụ khác nhƣ trong hình thức thƣơng mại hàng đổi hàng.
Trong quá trình này, ngƣời bán là ngƣời cung cấp của cải, hàng hoá, dịch vụ,. cho ngƣời mua, đổi lại ngƣời mua sẽ phải trả cho ngƣời bán một giá trị tƣơng đƣơng nào đó [29, tr. Thƣơng mại là một ngành kinh tế độc lập mà hoạt động của nó là mua, bán hàng hoá và dịch vụ. Sự phát triển kinh tế và hoạt động kinh doanh đã làm cho khái niệm thƣơng mại ngày càng đƣợc mở rộng.
Mức độ phát triển khác nhau của các nƣớc dẫn đến khái niệm thƣơng mại đƣợc hiểu theo các nghĩa khác nhau. Ở Việt Nam, khái niệm thƣơng mại dùng để chỉ các hoạt động liên quan đến quá trình cung ứng dịch vụ, đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Khoản 1 điều 3, Luật Thƣơng mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của nƣớc Cộng hoà XHCN Việt Nam). Trong khi đó, khái niệm thƣơng mại trong luật pháp quốc tế cũng nhƣ luật pháp của phần lớn các nƣớc đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hơn bao trùm rất nhiều lĩnh vực nhƣ: thƣơng mại hàng hoá, thƣơng mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ và các hoạt động đầu tƣ liên quan đến thƣơng mại. Các nhà kinh tế học hiện đại cũng xem thƣơng mại hoạt động với chức năng chủ yếu là mua, bán hàng hoá và các dịch vụ mua bán kèm theo.
Vậy, thƣơng mại là quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trƣờng, là lĩnh vực phân phối và lƣu thông hàhoáhóa. Nếu hoạt động trao đổi hàng hoá (kinh doanh hàhoáhóa) vƣợt ra khỏi biên giới quốc gia thì ngƣời ta gọi đó là ngoại thƣơng 7 z (kinh doanh quốc tế) [2, tr. Trong pháp luật của một số nƣớc có nền kinh tế phát triển, TMDV có nội dung rộng hơn, nó bao gồm tất cả các hoạt động thƣơng mại thuần tuý (mua và bán hàng hoá) và cả hoạt động sản xuất công nghiệp, cùng hầu hết các dịch vụ trên thị trƣờng nhƣ: dịch vụ hàng không, dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm,. Ở Việt Nam, theo các nhà nghiên cứu thì TMDV không chỉ là hoạt động mua bán hàng hoá thuần tuý mà gồm cả những dịch vụ liên quan đến mua bán hàng hoá nhƣ: đại diện, môi giới thƣơng mại, uỷ thác mua bán hàng hoá, đại lý mua bán hàng hoá, quảng cáo thƣơng mại, gia công thƣơng mại,.
Nhƣ vậy, khái niệm TMDV đƣợc hiểu rộng hơn khái niệm thƣơng mại trƣớc đây. b) Dịch vụ: Các ngành ra đời và phát triển trong nền kinh tế quốc dân (KTQD) là do sự phân công lao động xã hội. Chuyên môn hoá sản xuất đã làm tăng thêm lực lƣợng sản xuất xã hội, là một trong những động lực chủ yếu của tăng trƣởng kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật, dẫn đến sự ra đời của ngành dịch vụ. Ngày nay, dịch vụ phát triển rất đa dạng và có vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của các quốc gia.
Toàn bộ hoạt động của nền KTQD ngƣời ta chia thành ba lĩnh vực, đó là: sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ. Theo nghĩa hẹp: dịch vụ là những hoạt động phục vụ cho một ngành, một lĩnh vực cụ thể nào đấy nhƣ: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ du lịch, dịch vụ đầu tƣ, dịch vụ thƣơng mại,. Theo nghĩa rộng: dịch vụ gồm toàn bộ các ngành nghề hoạt động trong lĩnh vực lƣu thông hàng hoá nhƣ thƣơng mại, ngân hàng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, đầu tƣ; các hoạt động phục vụ cho đời sống nhân dân nhƣ y tế, giáo dục, nghệ thuật, bảo hiểm,. đều thuộc về lĩnh vực dịch vụ.
Dịch vụ bao gồm toàn bộ những hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu các yếu tố “đầu vào” và giải quyết các yếu tố “đầu ra” của sản xuất cũng nhƣ đời sống con ngƣời. Hoạt động dịch vụ phát triển đến trình độ cao thì có mặt ở tất cả các lĩnh vực và có tác động rất lớn đến quá trình phát triển KT-XH, môi trƣờng của từng quốc 8 z gia, khu vực nói riêng và toàn thế giới nói chung. Dịch vụ với quan niệm đó không chỉ bao gồm những lĩnh vực truyền thống nhƣ: vận tải, thƣơng mại, ngân hàng, bƣu điện, bảo hiểm, truyền thông liên lạc, du lịch mà còn có cả những lĩnh vực rất mới nhƣ: xử lý chất thải, bảo vệ môi trƣờng, tiếp đón, dịch vụ văn hoá, dịch vụ hành chính, tƣ vấn pháp luật, tƣ vấn tình cảm và ngay cả đến dịch vụ tháp tùng riêng. Trong lý luận của mình C.Mác cho rằng dịch vụ cũng là hàng hoá nên nó vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị trao đổi.
Nhƣ vậy, dịch vụ là những hoạt động lao động tạo ra các hàng hoá không tồn tại dƣới dạng vật thể nhằm thoả mãn kịp thời, thuận lợi, hiệu quả hơn các nhu cầu của sản xuất và đời sống con ngƣời. Ngành dịch vụ lại tiếp tục phân chia ra thành các nhóm khác nhau. Căn cứ theo sản phẩm chủ yếu, Liên hợp quốc đã phân chia dịch vụ thành 5 cấp với 964 loại sản phẩm. Dựa vào cách phân loại này, ở Việt Nam dịch vụ đƣợc phân thành bốn nhóm ngành lớn, gồm: - Dịch vụ thƣơng mại, dịch vụ khách sạn và nhà hàng.
- Dịch vụ vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc. - Dịch vụ kinh doanh bao gồm các loại dịch vụ nông nghiệp, khai thác mỏ và công nghiệp chế biến,. - Dịch vụ cá nhân, xã hội và công cộng. Ngành TMDV là một ngành của nền KTQD, thực hoán chức năng tổ chức lƣu thông hàng hóa dịch vụ trong nƣớc và quốc tế.
Là một ngành trong nền KTQD, nên TMDV cũng phát triển theo những qui luật kinh tế chung có tác động trong toàn bộ nền KTQD. Mặt khác, cần thấy rằng đây là một ngành KTQD độc lập, đƣợc tách khỏi các ngành sản xuất nên nó cũng có qui luật phát triển riêng. Tóm lại, trong nền KTQD ngành TMDV là một ngành kinh tế độc lập, nó không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nhƣng lại phục vụ cho quá trình sản xuất và tái sản xuất. Dịch vụ nói chung và TMDV nói riêng có vai trò to lớn, đẩy nhanh tốchoáđộ lƣu chuyển hàng hóa tiền tệ, phát triển và ổn định thị trƣờng, làm thay đổi căn bản cơ cấu của nền KTQD.
Đặc trưng cơ bản của ngành thương mại dịch vụ 9 z TMDV là một ngành KTQD độc lập, đƣợc tách ra khỏi ngành sản xuất nên nó cũng có qui luật phát triển riêng. Ngành TMDV phụ thuộc vào sự tiến bộ của sản xuất và trình độ quản lý kinh tế của đất nƣớc. Những điều kiện này thay đổi thì phƣơng thức quản lý và kinh doanh thƣơng mại cũng có sự thay đổi tƣơng ứng. Trong xã hội có sự phân công lao động đã tạo ra một khối lƣợng hàng hoá và dịch vụ nhiều hơn, cho nên có sự trao đổi các sản phẩm hàng hoá với nhau.
Nhƣng để các dạng trao đổi trở thành thƣơng mại thì phải thoả mãn những yêu cầu chủ yếu sau đây: - Thứ nhất: trao đổi (hàng hoá, dịch vụ) phải bằng tiền, dù đó là tiền mặt hay ngân phiếu, tín phiếu hoặc kim loại quý. - Thứ hai: trao đổi thực hiện trên thị trƣờng theo qui luật của chúng, không phải theo những qui định hành chính, những luật lệ cứng nhắc. - Thứ ba: mua bán theo giá cả thị trƣờng. Đây là loại giá cả đƣợc hình thành trên thị trƣờng trong môi trƣờng cạnh tranh do quan hệ cung - cầu quyết định.
Vậy, thƣơng mại là lĩnh vực trao đổi hàng hoá, dịch vụ trên thị trƣờng (trong nƣớc và quốc tế) đƣợc thực hiện thông qua mua và bán bằng tiền, tự do theo giá cả thị trƣờng. * Đặc trưng cơ bản của ngành TMDV Việt Nam Trong nền kinh tế thị trƣờng (KTTT) định hƣớng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam, ngoài những đặc trƣng trên, ngành TMDV còn có những đặc trƣng riêng nhƣ: - Thƣơng mại hàng hoá, phát triển dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần (thƣơng mại nhiều thành phần). Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần đó là do còn nhiều hình thức sở hữu khác nhau về lực lƣợng sản xuất (TLSX). Các thành phần kinh tế ở Việt Nam (Theo Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc sửa đổi năm 2011) bao gồm 04 thành phần sau: kinh tế nhà nƣớc, kinh tế tập thể, kinh tế tƣ nhân, và kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, các thành phần kinh tế đều đƣợc khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
Nền kinh tế nhiều thành phần ở nƣớc ta là nguồn lực tổng hợp to lớn đề phát triển kinh tế, phát triển thƣơng 10 z mại trong điều kiện hội nhập. - TMDV phát triển theo định hƣớng XHCN dƣới sự quản lý của nhà nƣớc. Sự vận động của thƣơng mại theo cơ chế thị trƣờng không thể giải quyết hết đƣợc những vấn đề do chính cơ chế đó và bản thân hoạt động thƣơng mại đặt ra, vì vậy sự tác động của nhà nƣớc vào các hoạt động thƣơng mại là một tất yếu của sự phát triển. Thông qua pháp luật, các chính sách, chiến lƣợc qui hoạch và kế hoạch phát triển thƣơng mại, nhà nƣớc quản lý các hoạt động thƣơng mại trong trật tự kỷ cƣơng, kinh doanh theo đúng qui tắc của thị trƣờng.
- Thƣơng mại tự do hay tự do lƣu thông hàng hoá dịch vụ theo qui luật KTTT và theo pháp luật. TMDV làm cho sản xuất hàng hoá phù hợp với những biến đổi không ngừng của thị trƣờng trong nƣớc và thế giới, với tiến bộ kỹ thuật thay đổi nhanh chóng, đồng thời thông qua việc phục vụ tiêu dùng (sản xuất và cá nhân) làm nảy sinh những nhu cầu mới mà kích thích sản xuất.