CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO 1.1 Khái niệm Hiệp định thương mại tự do Tư tưởng tự do kinh tế, đặc biệt tự do thương mại đã được rất nhiều nhà kinh tế học từ cổ điển tới hiện đại ủng hộ (Fransois Quesnay người Pháp; ADam Smith, David Ricardo người Anh và S.Sismondi người Pháp…) bởi nó mang lại lợi ích kinh tế- xã hội rất to lớn cho các quốc gia. Trong quá trình tham gia tự do thương mại, các quốc gia không thể áp dụng được một mình, không “tự nguyện” giảm các rào cản thương mại mà phải thỏa thuận cùng nhau cắ t giả m cá c rà o cả n thương mạ i , tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển tự do thương mạ i. Quá trình thúc đẩy tự do hóa thương mại này dẫn đến việc thành lập các hiệp định thương mại tự do (FTA). Hiện nay, đánh giá theo phạm vi và mức độ hội nhập, các quốc gia liên kết kinh tế theo nhiều loại hình của Hiệp định thương mại khu vực (Regional Trade Agreements, viết tắt là RTAs), trong đó nổi bật gồm có: Hiệp định ưu đãi thương mại, Hiệp định thương mại tự do, Thỏa thuận hội nhập kinh tế, Liên minh thuế quan.
Hiệp định ưu đãi thương mại (Preferential Trade Agreement) là cấp độ thấp trong các loại hình hiệp định thương mại khu vực, theo đó các quốc gia tham gia hiệp định dành các ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan cho hàng hóa của nhau. Trong thỏa thuận này, thuế quan và hàng rào phi thuế quan có thể vẫn còn, nhưng thấp hơn so với khi áp dụng cho quốc gia không tham gia hiệp định. Một ví dụ về thỏa thuận ưu đãi thương mại là Hiệp định về Thỏa thuận Ưu đãi Thương mại ASEAN được ký kết tại Manila năm 1977 và được sửa đổi năm 1995; hay Khu vực Ưu đãi Thương mại Đông 6 và Nam Phi tồn tại từ năm 1981 đến năm 1994; hay như các Hiệp định dành ưu đãi thương mại (hay tối huệ quốc) mà một số nước phát triển có thể dành cho các nước đang phát triển. Thỏa thuận hội nhập kinh tế (Economic Integration Agreement) là hình thức hội nhập kinh tế thông qua bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan đối với hàng hóa và tự do hóa dịch vụ, bảo hộ đầu tư, thúc đẩy thương mại điện tử giữa các nước ký kết hiệp định.
Liên minh thuế quan (Customs Union) có thể hiểu là một khu vực thương mại tự do giữa các nước thành viên cộng với thuế quan thống nhất của các nước thành viên đối với hàng hóa từ ngoài khu vực. Việc thành lập liên minh thuế quan cho phép tránh được những phức tạp liên quan đến xuất xứ hàng hóa, nhưng lại làm nảy sinh những khó khăn trong phối hợp chính sách giữa các nước thành viên. FTA cũng là một trong số những loại hình Hiệp định Thương mại khu vực. Cho tới nay đã có rất nhiều các tổ chức và quốc gia khác nhau đưa ra các khái niệm về FTA cho riêng mình.
Điều này thể hiện những quan điểm khác nhau về FTA cũng như sự phát triển đa dạng của các quốc gia. Trong số các khái niệm về FTA đã được đưa ra thì đa số các nước và các tổ chức trên thế giới chấp thuận một số khái niệm sau: - Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) tại điều XXIV điểm 8b ghi rõ: “Một khu vực mậu dịch tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hoặc nhiều các lãnh thổ thuế quan. Trong đó, thuế và các quy định mang tính hạn chế về thương mại (ngoại trừ, trong chừng mực cần thiết, các hạn chế được phép theo quy định của các Điều XI, XII, XIII, XIV, XV and XX) sẽ bị dỡ bỏ đối với phần lớn các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ lập thành khu vực mậu dịch tự do” (A free trade area shall be understood to mean a group of two or more customs territories in which the duties and other restrictive regulations of commerce 7 (except, where necessary, those permitted under Articles XI, XII, XIII, XIV, XV and XX) are eleminated on substantially all the trade between the constituent territories in products originating in such territories) [20]. - Theo Wikipedia-the free encyclopedia: “FTA là một Hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia.
Thông thường các thỏa thuận được thực hiện giữa hai nước và có nghĩa là để giảm bớt hoặc gỡ bỏ hoàn toàn thuế quan trong thương mại” (FTA is a trade treaty between two or more countries. Usually these agreements are between two countries and are meant to reduce or completely remove tariffs to trade) [33]. - Theo trang web chính thức của Chính phủ Nhật Bản về FTA: “FTA là những hiệp định chung có mục tiêu dỡ bỏ thuế quan, thực hiện tự do hoá thương mại hàng hoá và dịch vụ giữa các nước và khu vực xác định. FTA là một trường hợp ngoại lệ của Hiệp định WTO và Quy chế Tối huệ quốc” [35].
- Theo trang web chính thức của Chính phủ Singapore về FTA: “FTA là một thỏa thuận pháp lý ràng buộc giữa hai hoặc nhiều quốc gia để giảm hoặc loại bỏ các rào cản thương mại và tạo thuận lợi cho sự chuyển dịch hàng hoá và dịch vụ qua biên giới giữa các vùng lãnh thổ của các Bên” [34]. - Theo trang web chính thức của Chính phủ Hoa kỳ về FTA: “FTA là sự đàm phán giữa hai hay nhiều quốc gia nhằm cắt giảm tất cả các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với thương mại giữa các thị trường của các nước thành viên. Mỗi nước vẫn có thể áp dụng các rào cản thuế và rào cản thương mại khác đối với các quốc gia không tham gia ký kết hiệp định” [36]. Tóm lại, chúng ta có thể thấy các khái niệm trên đều hàm chứa một nội dung cốt lõi xuyên suốt: “FTA là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia (hoặc vùng lãnh thổ) nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một 8 số nhóm mặt hàng nào đó bằng việc cắt giảm thuế quan, tạo lập các quy định tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ và di chuyển vốn giữa các quốc gia thành viên”.
Đối với FTA thì mỗi nước vẫn có thể áp dụng các rào cản thuế và rào cản thương mại khác đối với các quốc gia không tham gia ký kết hiệp định. Ngày nay, FTA không chỉ giới hạn trong việc thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ mà còn cả xúc tiến và tự do hoá đầu tư, hợp tác chuyển giao công nghệ, thuận lợi hóa thủ tục hải quan, xây dựng năng lực và nhiều nội dung mới khác như lao động, môi trường; các FTA đã cho thấy những ưu thế vượt trội của mình, trở thành một xu hướng đang phát triển rất mạnh mẽ trong những năm gần đây.2 Phân loại các FTA Chúng ta có thể phân loại các FTA theo nhiều tiêu chí khác nhau như quy mô số lượng các nước tham gia FTA, hình thức đàm phán ký kết các FTA, hoặc mức độ tự do hóa của các FTA, cũng có thể phân theo đặc thù các nước tham gia. Nhưng phân loại theo quy mô số lượng các quốc gia tham gia đàm phán ký kết là một cách phân loại cho thấy sự khác biệt tương đối giữa các FTA. Theo cách này, các FTA được chia ra thành 3 loại: FTA song phương, FTA đa phương, FTA hỗn hợp.1 FTA song phương FTA song phương được hiểu đơn giản là FTA chỉ có 2 quốc gia hoặc vùng lãnh thổ tham gia đàm phán và ký kết.
Như vậy, chỉ có 2 nước trong suốt quá trình đàm phán cũng như ký kết một FTA và cũng chỉ có 2 nước này chịu sự ràng buộc của những điều khoản được quy định trong FTA song phương. Đây là loại hình FTA phổ biến nhất hiện nay và sẽ tiếp tục phát triển 9 mạnh mẽ trong tương lai bởi những ưu thế của nó về quá trình đàm phán nhanh gọn, đơn giản, dễ đạt được sự thống nhất. Có thể lấy FTA song phương giữa Chile với Hoa Kỳ hoặc FTA song phương giữa Peru với Singapore làm ví dụ cho loại hình FTA này. - FTA song phương giữa Chile với Hoa Kỳ FTA song phương giữa Chile với Hoa Kỳ được ký kết ngày 06/06/2003 và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 sau 2 phiên đàm phán kéo dài 13 năm.
Đây là hiệp định thương mại tự do song phương đầu tiên giữa Hoa Kỳ ký kết với một nước Châu Mỹ La tinh. Theo như thỏa thuận thì hai bên sẽ dỡ bỏ hàng rào thuế quan ngay lập tức đối với 87% mặt hàng và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn với tất cả các mặt hàng trao đổi thương mại song phương chậm nhất trong vòng 12 năm. FTA song phương giữa Chile với Hoa Kỳ có hiệu lực đã giảm 90% thuế xuất khẩu của Hoa Kỳ đến Chile và 95% thuế của Chile xuất khẩu sang Hoa Kỳ [38]. Hiệp định này cũng bao gồm các cam kết của cả hai nước đối với nhiều vấn đề liên quan đến phi thuế quan như: quyền sở hữu trí tuệ, dịch vụ, đầu tư, tạm nhập tái xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp và về viễn thông.
Theo Cục Thương mại Hoa Kỳ thì Hiệp định này đã làm tăng kim ngạch hai chiều giữa Hoa Kỳ và Chile đạt 20,3 tỷ đô vào năm 2008, xuất khẩu từ Chile vào Hoa Kỳ đã tăng 300%; hơn 300 công ty của Hoa Kỳ đã đầu tư vào Chile, sử dụng trên 585.000 lao động Chile và đóng góp thêm 3,2% vào GDP của Chile [37]. - FTA song phương giữa Singapore với Peru FTA song phương giữa Singapore với Peru (PeSFTA) được bắt đầu đàm phán vào ngày 19/11/2004 sau cuộc họp giữa Thủ tướng Lee Hsien Loong và Tổng thống Peru Alejandro Toledo Manrique ở lề của cuộc họp các 10 nhà lãnh đạo kinh tế APEC tại Santiago, Chile. PeSFTA được ký kết vào ngày 29/5/2008 và có hiệu lực vào ngày 1/8/2009. PeSFTA là một thỏa thuận toàn diện bao gồm các lĩnh vực như thương mại hàng hoá, quy tắc xuất xứ, biện pháp thương mại, vệ sinh (SPS) các biện pháp, kỹ thuật, các rào cản thương mại (TBT), thương mại dịch vụ, đầu tư, mua sắm chính phủ, thủ tục hải quan, tạm thời xuất nhập cảnh, cạnh tranh chính sách, quy định chế và giải quyết tranh chấp.
Với Singapore, đây là FTA thứ hai mà nước này đã ký với một quốc gia Nam Mỹ, bao gồm các vấn đề về thương mại hàng hóa, quy định xuất xứ đến chính sách cạnh tranh và giải quyết tranh chấp.