chương ITO được phê chuẩn, 23 trong số 50 nước đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phám vế thuế quan xử lý các biện pháp bảo hộ mậu dịch đang được áp dụng và duy trì trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30. Các nước này mong muốn nhanh chóng thúc đẩy tự do hoá mậu dịch, khôi phục lại nền kinh tế bị phá huỷ nặng nề sau chiến tranh thế giới thứ II. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.comb Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại thế giới đã được thoả thuận tại Hội nghị Liên hợp Quốc tế về thương mại và việc làm tại Havana từ 11/1947 đến 24/3/1948, nhưng do một số nước không tán thành nên việc hình thành tổ chức thương mại thế giới (ITO) đã không thực hiện được. Tuy nhiên kết quả của cuộc đàm phán cũng đem lại sự thành công nhất định; đã có 45000 nhượng bộ về thuế quan, ảnh hưởng đến khối lượng thương mại trị giá 10 tỉ $, tức là gần 1/5 tổng thương mại trên thế giới.
23 nước này đều cùng nhất trí chấp nhận ủng hộ một số quy định trong hiến chương của ITO. Các quy định này sẽ được thực hiện hết sức nhanh chóng một cách tạm thời để có thể bảo vệ được thành quả của những cam kết thuế quan đã được đàm phán. Kết hợp của những qui định thương mại và cam kết thuế quan được biết đến dưới tên gọi Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 11/1/1948.
23 nước tham gia trở thành những thành viên sáng lập GATT, hay còn gọi là "các bên tham gia hiệp định". Mặc dù GATT chỉ mang tính tạm thời nhưng đây vẫn là công cụ duy nhất mang tính đa biên điều tiết thương mại thế giới kể từ năm 1948 cho đến khi WTO được thành lập vào năm 1995 và trong suốt thời gian đó các văn bản pháp lý của GATT vẫn được duy trì gần giống năm 1948. Có thêm một số hiệp định mới được đưa vào dưới dạng hiệp định "nhiều bên" và các nỗ lực cắt giảm thế quan vẫn được tiếp tục. Tất cả những bước tiến lớn của thương mại quốc tế đã diễn ra thông qua các cuộc đàm phán thương mại đa biên được biết đến dưới cái tên "vòng đàm phán thương mại".
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.comb Bảng 1: Các vòng đàm phán của GATT Năm Địa điểm Chủ đề đàm phán Số nước 1947 Geneva Thuế quan 23 1949 Annecy Thuế quan 13 1951 Torquay Thuế quan 38 1956 Geneva Thuế quan 26 1960 - 1961 Geneva (vòng Dillon) Thuế quan 26 1964 - 1967 Geneva (vòng Kenedy) Thuế quan và các biện pháp 62 chống bán phá giá 1973 - 1979 Geneva ( Vòng Tokyo) Thuế quan và các biện pháp 102 phi thuế, các hiệp định khung. 1986 - 1994 Geneva (vòng Uruguay) Thuế quan và các biện pháp 123 Phi thuế, dịch vụ, sở hữu trí Tuệ, giải quyết tranh chấp, Nông nghiệp,WTO. Trong các vòng đàm phán thương mại đầu tiên của GATT chủ yếu tập trung vào việc cắt giảm thuế quan hơn nữa. Đến vòng Kenedy, nội dung của các vòng đàm phán đã được mở rộng: đưa ra đàm phàn về hiệp định chống bán phá giá, số nước tham gia là 62 nước.
Tiếp theo là vòng đàm phán Tokyo, kéo dài từ năm 1973 đến năm 1979 với sự tham gia của 102 nước. Kết quả vòng đàm phán này bao gồm 9 thị trường công nghiệp hàng đầu trên thế giới cắt giảm trung bình 1/3 mức thuế quan và do đó mức thuế trung bình đối với hàng nông sản giảm xuống ở mức 47%. Việc cắt giảm thuế quan sẽ được thực hiện trong vòng 8 năm bao gồm cả vấn đề điều hoà thuế - thuế càng cao thì cắt giảm càng lớn theo tỷ lệ. Tuy nhiên, bên cạnh các vấn đề có kết quả như trên thì đối với các vấn đề khác kết quả của vòng đàm phán Tokyo là không mấy hoàn hảo.
Vòng đàm phán này đã thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề liên quan đến thương mại hàng nông sản, không đưa ra được hiệp định mới về các biện pháp tự vệ (biện pháp khẩn cấp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.comb đối với hàng nhập khẩu). Mặc dù vậy, đã có nhiều hiệp định về hàng rào phi quan thuế đã xuất hiện tại vòng đàm phán này (một vài hiệp định mới hoàn toàn, một vài hiệp định tiếp tục bổ sung thêm từ các qui dịnh của GATT). Trong phần lớn các trường hợp thì chỉ có một số nước rất nhỏ, chủ yếu là các nước công nghiệp phát triển chấp nhận tham gia vào các hiêp định mới này vì họ là những người được lợi ích nhiều nhất. Do đó, các hiệp định này chỉ được gọi là "hệ thống qui tắc".
Những qui tắc này không mang tính chất đa biên, nhưng đây là một bước khởi đầu mới. Các "hệ thống qui tắc" của vòng Tokyo: + Trợ cấp và các biện pháp đổi kháng - diễn giải điều 6.16 và 23 hiệp định GATT. + Các hàng rào kỹ thuật đổi với thương mại - còn được gọi là: Hiệp định về tiêu chuẩn. + Các thủ tục cấp phép nhập khẩu.
+ Mua sắm chính phủ. + Định giá hải quan - diễn giải điều 7. + Chống phá giá - diễn giải điều 6, thay cho qui định vòng Kenedy. + Thoả thuận về sữa quốc tế.
+ Thương mại máy bay dân dụng. Một số hệ thống qui tắc sau vòng đàm phán Uuguay đã được điều chỉnh lại và được cam kết mang tính chất đa biên buộc các nước thành viên phải cùng nhau thực hiện. Chỉ có 4 hiệp định: mua sắm chính phủ, máy bay dân dụng cho đến hiện nay vẫn mang tính nhiều bên. Vào năm 1997, hai hiệp định về thịt bò và sữa đã được huỷ bỏ.
Cho đến hết vòng đàm phán Tokyo, GATT hoạt động mang tính tạm thời và có phạm vi hoạt động hạn chế. Tuy nhiên, GATT đã đem lại những thành công rất lớn trong việc đảm bảo tự do hoá phần lớn thương mại quốc tế. Chỉ tính đến việc cắt giảm thuế quan đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trung bình của thương mại thế giới lên mức trung bình trong suốt thập niên 50-60. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.comb Chính tốc độ tự do hoá mậu dịch đã giúp cho tốc độ tăng trưởng của thương mại luôn luôn vượt qua tốc độ tăng trưởng kinh tế trong suốt thời kỳ GATT tồn tại.
Bên cạnh đó, ngày càng nhiều nước đệ đơn tham gia xin gia nhập đã cho thấy hệ thống thương mại đa biên đã được công nhận như một công cụ để phục vụ công cuộc phát triển kinh tế, thương mại của cả thế giới nói chung và của từng quốc gia nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đã xuất hiện những vấn đề mới nảy sinh. Vòng Tokyo đã cố gắng giải quyết một số vấn đề đó nhưng kết quả mang lại còn khá hạn chế. GATT đã phải đối mặt với những khó khăn rất lớn.
Thứ nhất, thành công của GATT trong việc cắt giảm thuế quan xuống mức thấp cộng với tác động của suy thoái kinh tế trong suốt thập niên 70 và 80 đã dẫn đến việc chính phủ các nước đã tiến hành điều chỉnh các hình thức bảo hộ đối với các lĩnh vực đang phải cạnh tranh với nước ngoài nhằm có thể giữ được ổn định cho nền kinh tế của họ. Tỷ lệ thất nghiệp cao cộng với việc phải đóng cửa liên tục nhiều nhà máy đã buộc chính phủ các nước Tây Âu và Bắc Mỹ phải đi đến thoả thuận song phương về chia sẻ thị trường với các nhà cạnh tranh và ngày càng tăng dần mức độ trợ cấp nhằm duy trì được vị trí của mình, nhất là trong thương maị hàng nông sản. Những thay đổi này có nguy cơ làm giảm và mất đi những giá trị của việc giảm thuế quan đã mang lại cho thương mại quốc tế, vì vậy hiệu quả và độ tin cậy của GATT bị suy giảm. Thứ hai, đến thập niên 80 thì Hiệp định chung không còn đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn của thương mại quốc tế như ở thập niên 40 nữa.
Ít nhất thì hệ thống thương mại thế giới đã trở nên phức tạp, đa dạng và quan trọng hơn rất nhiều so với 40 năm trước. Phần lớn GATT chỉ điều tiết thương mại hàng hoá hữu hình nhưng ngày nay nền kinh tế thế giới đang trong quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ, thương mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng, thương mại dịch vụ - lĩnh vực không được hiệp định GATT điều chỉnh đã trở thành lợi ích cơ bản của ngày càng nhiều nước. Từ ngân hàng, bảo hiểm, vận tải biển, tư vấn. đã phát triển không 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.comb ngừng; đầu tư quốc tế cũng được mở rộng.
Thương mại dịch vụ phát triển cũng kéo theo sự gia tăng hơn nữa của thương mại hàng hoá. Thứ ba, trong một số lĩnh vực của thương mại hàng hoá GATT cũng còn nhiều bất cập, ví dụ đối với lĩnh vực nông nghiệp, những lỗ hổng của hệ thống thương mại đa biên đã bị lợi dụng triệt để và mọi nỗ lực nhằm tự do hoá hàng nông sản đã không đạt được thành công. Trong lĩnh vực hàng dệt may cũng vậy, các nước đã cùng nhau miễn trừ các nguyên tắc của GATT và đưa ra một hiệp định mới là Hiệp định đa sợi. Thứ tư, cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng gây ra nhiều lo ngại.
GATT chỉ là một hiệp định, việc tham gia không mang tính chất bắt buộc do vậy các nước có thể tuân theo và cũng có thể không. Bên cạnh đó, thương mại quốc tế trong những năm 80 trở đi đòi hỏi phải có một tổ chức cố định, có nền tảng pháp lý vững chắc để có thể đảm bảo thực thi các quy định, các nguyên tắc chung của thương mại quốc tế. Về hệ thống các quy chế giải quyết tranh chấp, GATT cũng chưa có cơ chế chặt chẽ, chưa có thời gian biểu nhất định do vậy các cuộc tranh chấp thường bị kéo dài, dễ đi vào ách tắc. Đây là những nhân tố khiến cho các thành viên của GATT tin rằng phải có những nỗ lực mới nhằm củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên.
Những nỗ lực đó đã dẫn đến kết quả có vòng đàm phán Uruguay, tuyên bố Marrakesh và việc tổ chức thương mại thế giới WTO ra đời.2 Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO.1 Vòng đàm phán Uruguay. Vòng đàm phán Uruguay là vòng đàm phán lớn nhất cả về thời gian và các lĩnh vực thương mại.