Tổng quan nghiên cứu

Thương mại dịch vụ toàn cầu trong hai thập kỷ cuối thế kỷ XX đã có những bước bứt phá mạnh mẽ, chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu và đóng góp tới 70% đến 80% GDP tại các quốc gia công nghiệp phát triển. Tại Việt Nam, sau giai đoạn đầu Đổi mới, tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP từng đạt mức đỉnh 44,06% vào năm 1995 nhưng sau đó sụt giảm liên tục xuống còn 38,23% vào năm 2003. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ năm 2003 chỉ đạt 6,57%, thấp hơn đáng kể so với mức tăng trưởng GDP chung là 7,24%. Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam đạt 2.948 triệu USD, chỉ chiếm 15,14% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, phản ánh tiềm năng kinh tế dịch vụ chưa được khai thác tương xứng. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu hụt nhận thức và kỹ năng vận dụng marketing dịch vụ bài bản tại các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và thực thi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (BTA). Mục tiêu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa lý luận marketing dịch vụ, đánh giá toàn diện thực trạng ứng dụng công cụ marketing trong ba lĩnh vực then chốt gồm du lịch, viễn thông và tài chính - ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 1995-2003, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp marketing hỗn hợp đồng bộ đến năm 2010. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa nâng cao năng lực cạnh tranh, tối ưu hóa các chỉ số kinh doanh và thích ứng với lộ trình mở cửa 11 trên 12 phân ngành dịch vụ theo chuẩn mực quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Marketing dịch vụ mở rộng 7P kế thừa từ Philip Kotler và Bernard Booms - Mary Bitner, bao gồm bảy biến số cốt lõi: Sản phẩm (Product), Giá cả (Price), Phân phối (Place), Xúc tiến (Promotion), Con người (People), Cơ sở vật chất (Physical Evidence) và Quy trình dịch vụ (Process). Bên cạnh đó, luận văn tích hợp mô hình Servuction của Pierre Eiglier và Eric Langeard năm 1995 để phân tích cơ chế tạo lập giá trị dịch vụ thông qua sự tương tác ba chiều giữa khách hàng, nhân viên tiếp xúc và cơ sở vật chất kỹ thuật. Nghiên cứu cũng căn cứ vào khung pháp lý của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS - WTO) với 4 phương thức cung ứng dịch vụ quốc tế: cung cấp qua biên giới, tiêu dùng ở nước ngoài, hiện diện thương mại và hiện diện thể nhân. Bốn khái niệm chuyên ngành nền tảng được định hình xuyên suốt gồm tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng, cùng tính không thể lưu kho của sản phẩm dịch vụ.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ Báo cáo thống kê của UNCTAD năm 2004, Bộ Thương mại Việt Nam giai đoạn 1995-2003 và dữ liệu sơ cấp được thu thập độc lập qua điều tra thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 385 phiếu khảo sát phát ra cho các doanh nghiệp dịch vụ tại địa bàn Hà Nội, thu về 93 phiếu trả lời hợp lệ, đạt tỷ lệ phản hồi 24,16%. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, bao phủ 8 phân ngành trọng yếu gồm viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, phân phối, du lịch, xây dựng và tư vấn. Phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả, phân tích so sánh và mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter được lựa chọn vì tính phù hợp vượt trội trong việc bóc tách thực trạng năng lực cạnh tranh, làm rõ các điểm nghẽn nghiệp vụ và xác lập căn cứ khoa học cho các giải pháp marketing thực tiễn giai đoạn đổi mới.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ bị suy giảm rõ rệt và tụt hậu so với tăng trưởng kinh tế tổng thể. Tăng trưởng dịch vụ giảm từ 9,83% năm 1995 xuống 2,25% năm 1999 trước khi phục hồi nhẹ lên 6,57% năm 2003, luôn thấp hơn mức tăng trưởng GDP bình quân 7,04% đến 7,24% cùng kỳ.

Thứ hai, cơ cấu nội ngành dịch vụ duy trì tình trạng mất cân đối nghiêm trọng. Ba ngành truyền thống gồm thương mại (13,77% GDP), vận tải - bưu điện (3,73% GDP) và khách sạn - nhà hàng (3,12% GDP) chiếm tới gần 60% tổng giá trị toàn ngành dịch vụ năm 2003, trong khi các ngành có giá trị gia tăng cao như tài chính - tín dụng chỉ chiếm 1,80% GDP.

Thứ ba, cán cân thương mại dịch vụ thâm hụt kéo dài. Năm 2002, xuất khẩu dịch vụ đạt 2.948 triệu USD nhưng nhập khẩu dịch vụ lên tới 3.698 triệu USD, dẫn đến mức nhập siêu 750 triệu USD. Lĩnh vực dịch vụ thu hút 851 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 14,86 tỷ USD (chiếm 35,8% tổng vốn FDI cả nước) nhưng khả năng tiếp thu công nghệ và chuyển giao kỹ năng marketing còn rất hạn chế.

Thứ tư, kết quả khảo sát 93 doanh nghiệp chỉ ra hơn 70% đơn vị chưa có bộ phận marketing chuyên trách, hoạt động nghiên cứu thị trường mang tính tự phát và chiến lược xúc tiến chủ yếu dựa vào giảm giá đơn thuần mà bỏ quên yếu tố con người và quy trình.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ tư duy kế hoạch hóa tập trung tồn đọng, xem nhẹ kinh tế dịch vụ và thiếu đầu tư cho nghiên cứu thị trường. So sánh quốc tế cho thấy, trong khi tỷ trọng dịch vụ của các nước đang phát triển tăng từ 49% lên 52% trong giai đoạn 1990-2003 và các nước phát triển đạt 72%, thì Việt Nam lại thụt lùi từ 44,06% xuống 38,23%.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ đường thể hiện tương quan tăng trưởng GDP và Dịch vụ giai đoạn 1995-2003, kết hợp biểu đồ hình quạt phản ánh cơ cấu thị phần 4 nhóm dịch vụ trụ cột nhằm làm rõ trực quan sự lệch pha phát triển. Ý nghĩa của phát hiện này khẳng định tính cấp bách của việc tái cấu trúc năng lực cạnh tranh thông qua ứng dụng đồng bộ 7P marketing mix.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc chiến lược sản phẩm dịch vụ và xây dựng quy trình Servuction chuẩn hóa: Các doanh nghiệp dịch vụ du lịch, tài chính, viễn thông cần phát triển danh mục sản phẩm đa tầng gồm dịch vụ cốt lõi, dịch vụ đặc định hóa và dịch vụ gia tăng, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO nhằm nâng cao tỷ lệ khách hàng hài lòng lên trên 85% trong giai đoạn 2005-2008 do Ban Giám đốc và khối Nghiên cứu Phát triển doanh nghiệp chủ trì.

Thứ hai, chuyên nghiệp hóa nguồn nhân lực và quản trị bằng chứng vật chất: Doanh nghiệp dịch vụ cần tổ chức đào tạo kỹ năng giao tiếp, giải quyết khiếu nại cho 100% nhân viên tuyến đầu, đồng thời hiện đại hóa cơ sở hạ tầng dịch vụ và hệ thống giao dịch điện tử nhằm giảm 30% thời gian chờ đợi của khách hàng trước năm 2008 dưới sự điều phối của Phòng Nhân sự và Khối Vận hành.

Thứ ba, đa dạng hóa kênh phân phối số và thực thi chiến lược định giá linh hoạt: Doanh nghiệp cần phát triển các kênh phân phối trực tuyến như ngân hàng điện tử, cổng đặt tour và vé điện tử trực tuyến, phấn đấu cắt giảm 25% chi phí trung gian và gia tăng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ từ 15% đến 20% mỗi năm đến năm 2010 dưới sự thực hiện của Khối Marketing và Kinh doanh.

Thứ tư, hoàn thiện khung pháp lý và môi trường cạnh tranh bình đẳng: Nhà nước và Bộ Thương mại cần sớm bãi bỏ chính sách phân biệt hai giá đối với người Việt Nam và người nước ngoài, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, minh bạch hóa chính sách và hỗ trợ xúc tiến thương mại quốc gia trước thềm gia nhập WTO vào giai đoạn 2006-2007.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất: Lãnh đạo cấp cao và Giám đốc Marketing tại các doanh nghiệp lữ hành, ngân hàng thương mại, bảo hiểm và viễn thông. Nhóm này có thể sử dụng luận văn làm cẩm nang thiết kế chiến lược 7P, tối ưu hóa điểm tiếp xúc khách hàng và phát triển sản phẩm dịch vụ gia tăng.

Nhóm thứ hai: Chuyên viên hoạch định chính sách tại Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng lộ trình mở cửa 11 phân ngành dịch vụ và điều chỉnh quy định phù hợp với cam kết GATS và WTO.

Nhóm thứ ba: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Thương mại quốc tế và Quản trị kinh doanh. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về mô hình Servuction và phương pháp điều tra thực địa 93 doanh nghiệp dịch vụ.

Nhóm thứ tư: Chuyên gia phân tích thị trường và tư vấn chiến lược kinh doanh. Nhóm này có thể khai thác hệ thống dữ liệu thống kê giai đoạn 1995-2003 để đánh giá chu kỳ chuyển dịch cơ cấu ngành và dự báo xu hướng tiêu dùng dịch vụ tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ trọng dịch vụ trong GDP của Việt Nam giai đoạn 1995-2003 lại giảm từ 44,06% xuống 38,23%? Sự sụt giảm 5,83 điểm phần trăm này xuất phát từ việc tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ chỉ đạt 6,57% năm 2003, thấp hơn mức tăng trưởng GDP 7,24%. Nguyên nhân chủ yếu do cơ cấu dịch vụ còn đơn điệu, các ngành giá trị cao chưa phát triển và doanh nghiệp thiếu chiến lược marketing dịch vụ bài bản.

Mô hình Marketing Mix 7P trong dịch vụ bổ sung những biến số nào so với 4P truyền thống? Mô hình 7P bổ sung 3 biến số mang tính đặc thù: Con người (People - nhân viên tiếp xúc trực tiếp tạo lập chất lượng), Cơ sở vật chất (Physical Evidence - không gian và trang thiết bị giúp hữu hình hóa dịch vụ) và Quy trình (Process - chuỗi tác nghiệp khoa học tạo sự thuận tiện tối đa cho khách hàng).

Bốn phương thức cung ứng thương mại dịch vụ quốc tế theo GATS bao gồm những gì? GATS quy định 4 phương thức gồm: Cung cấp qua biên giới (như cước viễn thông quốc tế), Tiêu dùng ở nước ngoài (du khách quốc tế đến Việt Nam du lịch), Hiện diện thương mại (ngân hàng nước ngoài lập chi nhánh tại Việt Nam) và Hiện diện thể nhân (chuyên gia, luật sư nước ngoài sang cung ứng dịch vụ trực tiếp).

Luận văn sử dụng cỡ mẫu khảo sát thực tế như thế nào để đảm bảo tính đại diện khoa học? Tác giả thực hiện khảo sát ngẫu nhiên phân tầng bằng phiếu điều tra gửi tới 385 doanh nghiệp dịch vụ tại Hà Nội, thu về 93 phiếu phản hồi hợp lệ (đạt tỷ lệ 24,16%), bao quát đầy đủ 8 lĩnh vực chủ chốt từ tài chính, ngân hàng, viễn thông đến vận tải và du lịch.

Doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam gặp phải thách thức lớn nhất nào trong tiến trình gia nhập WTO? Thách thức lớn nhất là sức ép cạnh tranh khốc liệt từ các tập đoàn đa quốc gia có tiềm lực tài chính dồi dào và năng lực marketing 7P vượt trội, trong khi hơn 70% doanh nghiệp nội địa chưa có phòng marketing chuyên nghiệp và vẫn phụ thuộc vào chiến lược cạnh tranh bằng giá thấp.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh lý thuyết Marketing dịch vụ 7P và mô hình Servuction gắn liền với 4 phương thức cung cấp dịch vụ quốc tế theo hiệp định GATS của WTO.
  • Làm rõ bức tranh thực trạng dịch vụ Việt Nam giai đoạn 1995-2003 với sự sụt giảm tỷ trọng GDP từ 44,06% xuống 38,23% và kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 2.948 triệu USD năm 2002.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm sâu sắc thông qua kết quả khảo sát thực tế 93 doanh nghiệp dịch vụ trên địa bàn Hà Nội.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp marketing hỗn hợp đồng bộ và khuyến nghị chính sách cụ thể theo lộ trình phát triển đến năm 2010.
  • Định hướng hành động ngay cho các nhà quản trị: Khẩn trương thành lập bộ phận marketing chuyên trách, chuẩn hóa quy trình phục vụ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để chủ động đón đầu làn sóng hội nhập kinh tế toàn cầu.