CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu VÀ co SỞ LÝ THUYẾT VÈ NÀNG LỤC CẠNH TRANH CỦA ĐIỂM ĐÉN DU LỊCH /. Tong quan nghiên cứu 1. Tong quan nghiên cứu trên thế giới Cùng với sự phát triền cùa ngành Du lịch, hiện nay, trên thế giới đã và đang có rất nhiều công trinh nghiên cứu về năng lực cạnh tranh. Đây là vẩn đề phức tạp nên có nhiều cách tiếp cận khác nhau liên quan đến vấn đề này.
Tiêu biếu trong số đó là công trình nghiên cứu “Tew to quyết định đến năng lực cạnh tranh điếm đến du lịch Châu A - Thái Bình Dương: Toàn diện và phố quát” của Michael J. Enright và James Newton (2004). Đổ tạo được dữ liệu thực nghiệm mong muốn, một cuộc khảo sát đã được tiến hành tại Hồng Kông, Băng Cốc và Singapore nham liệt kê tất cả những yếu tố ánh hưởng đến năng lực cạnh tranh của điếm đến du lịch. Ket quá khảo sát được phân tích phương sai và kiềm định giả thuyết ANOVA.
Tuy nhiên, phương pháp này rất khó áp dụng trong thực tế vì yêu cầu dữ liệu lớn và phải chính xác với thực te mới cho kết quả đúng. Ines Milohnic’ và Dora s. Jurdana (2010) trong nghiên cứu ”Năng lực cạnh tranh diêm đến du lịch: Những thách thức thị trường và hệ thống đánh giả” cho rằng chất lượng săn phẩm, dịch vụ du lịch là ycu tố quan trọng ảnh hướng đến năng lực cạnh tranh của một điếm đến du lịch, cần phài so sánh thường xuyên với các đối thủ cạnh tranh lớn nhất trên thị trường với mục đích xác định được các điếm yếu, điềm mạnh. Từ đó có biện pháp nham nâng cao năng lực cạnh tranh cho diem đến du lịch.
Phương pháp Benmarking (được sử dụng đề so sánh tình hình hoạt động giữa các tồ chức khác nhau hoạt động trong cùng một lĩnh vực hoặc giữa các bộ phận trong một tố chức) được thực hiện nhàm đâm bào phân loại và đánh giá kết quã. Cùng với đó, đề tài còn sử dụng các hệ thống khác như IDES và BSC đế đánh giá một điềm đen du lịch cụ thể. Phương pháp này được triến khai dễ dàng nếu lựa chọn được đối thú có nhiều diem tương đồng để đem ra so sánh. Đồng tình với quan điếm trên, Kirstin Hallmann và các cộng sự (2012) trong đề tài nghiên cứu “Suppliers' perception of destination competitiveness in a winter sport 7 resort” cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của sàn phấm, dịch vụ du lịch.
Hơn nữa, đề tài cũng chi ra được sự khác biệt trong nhận thức về năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch của khách du lịch dựa theo nghề nghiệp cùa họ. Ớ nghiên cứu này, mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của Ritchie và Crouch (2003) được sử dụng. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa thật sự mang tính đại diện và chỉ đúng trong trường hợp điềm đến du lịch là khu nghi dường thế thao mùa đông. Trong nghiên cứu mang tên “Tourism destination competitiveness: Towards a performance-based approach”, Mohd Hafiz Hanafiah và các cộng sự (2014) đã thiết kế, đo lường năng lực cạnh tranh của điếm đến du lịch dựa trên kết quà hoạt động kinh doanh của chúng và lý thuyết về năng lực cạnh tranh.
Nghiên cứu này tích hợp các nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực du lịch và đề xuất một khung khái niệm về năng lực cạnh tranh cùa điểm đến du lịch dựa trên hiệu suất. Các chì số về hoạt động du lịch và hướng nghiên cứu trong tương lai cũng được trinh bày. Có thế nói, các nghiên cứu trên cùng nhiều nghiên cứu khác như: “A Model of Tourism Destination Competitiveness: The case of the Italian Destinations Of Excellence” cùa Gianluca Goffi (2013), “Destination Competitiveness: A structural model for measuring attributes competitiveness of Bagan, Myanmar” của Ei Ei Khin (2014). đã trình bày khá đa dạng về cách thức xác định năng lực cạnh tranh của một điếm đen du lịch.
Trong đó chủ yếu tập trung điều tra khảo sát từ khách du lịch và nội lực bên trong của chúng. Ngoài ra còn có thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh tương đương đề xác định những điểm yếu và thiết lập nên những lợi thế cạnh tranh cho điềm đến du lịch. Tong quan nghiên cứu tại Việt Nam Ngoài những nghiên cứu kế trên, tại Việt Nam, có thê điếm qua một số công trình như: “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành quốc tê cùa Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” do Vụ Lữ hành, Tông cục Du lịch thực hiện năm 2007. Đe tài này đã phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam về lĩnh vực lữ hành quốc tế, từ đó đề xuất một số giãi pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong điều kiện hội nhập.
8 Ngoài ra còn có đề tài “Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam", của Nguyền Anh Tuấn (2010). Đe tài nêu lên các vấn đề lý luận về cạnh tranh điểm đến cũng như đánh giá năng năng lực cạnh tranh điểm đen của du lịch Việt Nam dựa trên mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh cùa Dwyer và Kim (2003). Bên cạnh đó, một số đề tài ở phạm vi nhó hơn quốc gia cũng được thực hiện như: "Nghiên cứu năng lực cạnh tranh diêm đến du lịch Đà Nang" của Nguyễn Thị Thu Vân (2011). Đe tài đã thu thập số liệu dựa vào xây dựng mô hình các chỉ số cạnh tranh, hay "Nghiên cứu tính cạnh tranh trong du lịch cùa thành phố Huế" cùa Thái Thanh Hà và Đặng Ngọc Hiệp (2010), nghiên cứu này đã làm rõ những nhân tố ảnh hường đến năng lực cạnh tranh du lịch của thành phố Huế.
Tuy nhiên, những công trinh nghiên cứu này mới chi tiếp cận ờ góc độ vĩ mô hay cho một số tinh, thành phố lớn và hiếm có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về điểm đen du lịch Vĩnh Phúc. Các công trình nghiên cứu điển hình về hoạt động du lịch tại Vĩnh Phúc như: "Khai thác tiềm năng du lịch trên địa hàn tinh Vĩnh Phúc" của Nguyền Thị Tố Nga (2014). Nghiên cứu này đã hệ thống hóa, chọn lọc một số vấn đề lý luận về tiềm năng du lịch, khai thác tiềm năng du lịch cho phát triển du lịch cùa một địa phương, nghiên cứu kinh nghiệm của một số địa phương và rút ra bài học về khai thác tiềm năng du lịch có the vận dụng cho Vĩnh Phúc. Trong luận văn "Kinh tế du lịch tinh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2016", Hoàng Thị Duyên (2018) đã nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, xã hội, các tiềm năng nhân văn tác động đen sự phát triển du lịch ở Vĩnh Phúc, tim hiểu hoạt động kinh tế du lịch trong thời gian từ năm 1997 đến 2016.
Từ đó, tác già chi ra những đóng góp của hoạt động du lịch tới sự phát triển kinh tể cùa địa phương, những tồn tại trong hoạt động du lịch của tình Vĩnh Phúc và đề xuất một số giải pháp có khả năng thực thi nhằm thúc đẩy phát triền kinh tế du lịch tại đây. Ngoài ra, còn có rất nhiều đề tài đáng chú ý khác như: "Phát triển nguồn nhân lực cho ngành kinh tế du lịch Vĩnh Phúc" của Đào Thị Kim Biên (2012), "Quán lý nhà Nước về du lịch cùa tinh Vĩnh Phúc" của Phạm Thị Nhung (2017). 9 Nội dung cúa các nghiên cứu trên đã làm rõ được một số lợi thế cũng như điềm yếu của tinh Vĩnh Phúc trong hoạt động du lịch, từ đó đưa ra một số giải pháp tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển du lịch tại đây. Tuy nhiên, tính cạnh tranh chưa được đề cập rõ nét và chưa có một công trình nào đề cập sâu đến khía cạnh năng lực cạnh tranh của điếm đến đu lịch Vĩnh Phúc.
Mặc dù vậy, những công trình nghiên cứu này đóng vai trò là tiền đề đế tác giả hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Cơ sở lý thuyết về điêm đen du lịch 1. Du lích Ngày nay, Du lịch trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phố biến. Hiệp hội Lữ hành quốc tế đã công nhận Du lịch là ngành kinh tế lớn nhất trên thế giới, vượt lên cả ngành sán xuất ô tô, thép điện tử và nông nghiệp.
Du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thể giới, trong đó có Việt Nam. Thuật ngữ du lịch trở nên khá thông dụng, nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng (Nguyễn Hoàng Đông, 2019). Du lịch gắn liền với nghi ngơi, giải trí, tuy nhiên do hoàn cành, thời gian và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau nên có nhiều khái niệm về du lịch đã được đưa ra. Theo Liên hiệp quốc tế các Tố chức Lữ hành chính thức (1947), du lịch được hiểu là hành động du hành đen một nơi khác với địa diem cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải đề làm ăn, tức không phai để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh song.
Tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch hợp tại Roma - Italia (1963), các chuyên gia đưa ra khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là tống hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trinh và lưu trú của cá nhân hay tập thế ớ bên ngoài nơi ờ thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bỉnh. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”. Tổ chức Du lịch The giới (1974) lại cho rang du lịch bao gồm tất cá mọi hoạt động cùa những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghi ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, 10 ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hãn nơi định cư.I Pirogionic (1985), du lịch là một dạng hoạt động cùa dân cư trong thời gian rảnh rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triền thề chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức vãn hoá hoặc thế thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá.
Lê Quỳnh Chi (2012) thi cho rằng du lịch là hoạt động của con người di chuyến ra khỏi nơi cư trú cúa minh với mục đích nghi dưỡng, giải trí, tham quan, tìm hiếu.