Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Văn Hiệp được thực hiện tại Khoa Du lịch, Trường Đại học Mở Hà Nội (chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành, khóa 2018 - 2022) dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Thu Phương, hoàn thành vào tháng 11 năm 2021. Bối cảnh thực tiễn được xác lập trong giai đoạn ngành du lịch chịu tác động bởi đại dịch Covid-19, song vẫn giữ vai trò là ngành kinh tế dịch vụ có xu hướng tăng trưởng nhanh, đóng góp thúc đẩy các ngành kinh tế khác, gia tăng nguồn thu ngoại tệ, cải thiện kết cấu hạ tầng và giải quyết việc làm. Đối với tỉnh Vĩnh Phúc, mặc dù là địa phương có ngành du lịch còn non trẻ so với nhiều trung tâm du lịch khác trong cả nước, song đã ghi nhận những bước tiến triển rõ nét. Trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), du lịch Vĩnh Phúc đứng trước cả cơ hội mở rộng thị trường lẫn sức ép cạnh tranh gay gắt từ các điểm đến trong nước và khu vực. Yêu cầu đặt ra là phải xác lập thế mạnh dựa trên lợi thế cạnh tranh bền vững, định vị lợi thế mới và khắc phục các bất lợi cố hữu. Nhận thấy các công trình nghiên cứu chuyên sâu về năng lực cạnh tranh du lịch tỉnh Vĩnh Phúc còn rất hạn chế, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu này.
Mục tiêu tổng quát của khóa luận là tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Vĩnh Phúc. Bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch, năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch.
- Đề xuất mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Vĩnh Phúc.
- Phân tích thực trạng, tiềm năng du lịch tại Vĩnh Phúc.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Vĩnh Phúc.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Vĩnh Phúc.
- Khách thể nghiên cứu: Du khách đã từng đến tham quan, du lịch tại tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi nội dung: Hệ thống hóa lý luận, xây dựng mô hình đánh giá, khảo sát thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Vĩnh Phúc và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao sức cạnh tranh.
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu điều tra khảo sát khách du lịch diễn ra trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2021; các định hướng và giải pháp đề xuất có tầm nhìn đến năm 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tổng thuật hệ thống khái niệm nền tảng về du lịch từ các tổ chức và học giả: Liên hiệp quốc tế các Tổ chức Lữ hành chính thức (1947), Hội nghị Liên Hợp Quốc tại Roma (1963), Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO 1974, 2007), Pirogionic (1985), Lê Quỳnh Chi (2012) và Luật Du lịch Việt Nam năm 2017. Khái niệm điểm đến du lịch được tham chiếu qua Bieger (1996), Ngô Thị Diệu An (2014) và UNWTO (2007), trong đó các thành phần cấu thành cốt lõi gồm: điểm hấp dẫn du lịch, giao thông đi lại, nơi ăn nghỉ, các tiện nghi/dịch vụ hỗ trợ và các hoạt động bổ sung (Châu Anh, 2016).
Về lý thuyết cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, tác giả viện dẫn quan điểm của K. Marx (1848), P. Samuelson & W. Nordhaus (1989), R. Dornbusch (2002), Lê Huy Hòa (2007), Michael Porter (1990) và chọn cách tiếp cận của Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2003): cạnh tranh là mang lại cho khách hàng giá trị gia tăng cao và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình thay vì đối thủ. Ở cấp độ điểm đến du lịch, đề tài tổng hợp định nghĩa từ Pearce (1997), Hassan (2000), Crouch và Ritchie (2003), Kim và Dwyer (2003), Đỗ Văn Tính (2013).
Hai mô hình lý thuyết quốc tế được sử dụng làm nền tảng so sánh:
- Mô hình Crouch và Ritchie (2003): Gồm 36 thuộc tính phân thành 5 nhóm yếu tố: Các yếu tố hạn định và mở rộng; Chính sách quy hoạch và phát triển điểm đến; Quản lý điểm đến; Nguồn lực và nhân tố hấp dẫn căn bản; Các nhân tố và nguồn lực hỗ trợ.
- Mô hình Dwyer và Kim (2003): Kế thừa mô hình trên nhưng phân định rành mạch giữa tài nguyên sẵn có và tài nguyên sáng tạo, tách riêng cơ sở hạ tầng du lịch khỏi hạ tầng chung, đồng thời bổ sung yếu tố điều kiện cầu (mặt cầu du khách).
Dựa trên điều kiện thực tế của một địa phương cấp tỉnh, tác giả đã lược bớt các tiêu chí vĩ mô (ý chí chính trị, quan hệ thị trường, kiến trúc thượng tầng) và đề xuất mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Vĩnh Phúc gồm 6 nhóm yếu tố với 30 biến quan sát:
- Sự hấp dẫn của điểm đến: Đo lường qua 5 biến quan sát (khí hậu thời tiết ôn hòa; sự đa dạng tài nguyên; khai thác có trách nhiệm; giữ gìn, phát huy tài nguyên; sự đa dạng của ẩm thực).
- Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật: Đo lường qua 10 biến quan sát (chất lượng đường bộ; khả năng đáp ứng của hệ thống điện; hệ thống nước; hệ thống thông tin liên lạc; chất lượng cơ sở lưu trú; số lượng cơ sở lưu trú; chất lượng nhà hàng; số lượng nhà hàng; chất lượng cơ sở vui chơi giải trí; số lượng cơ sở vui chơi giải trí).
- Sản phẩm và dịch vụ du lịch: Đo lường qua 3 biến quan sát (sự đa dạng; sự độc đáo; sự phù hợp với nhu cầu du khách).
- Công tác quản lý điểm đến: Đo lường qua 4 biến quan sát (bảo đảm an ninh, trật tự; an ninh mạng và kiểm duyệt thông tin; chiến lược marketing; bảo đảm vệ sinh môi trường, cảnh quan).
- Nguồn nhân lực: Được tách thành nhóm riêng, đo lường qua 4 biến quan sát (thái độ thân thiện; kỹ năng nghề thành thục; kiến thức chuyên ngành; số lượng nhân viên).
- Điều kiện cầu: Đo lường qua 4 biến quan sát (sự hứng thú với cảnh quan; hứng thú với văn hóa; sự ưu tiên lựa chọn Vĩnh Phúc; hiểu biết và trải nghiệm du lịch Vĩnh Phúc).
Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ sách, báo điện tử, tạp chí khoa học, các văn bản chính sách và công trình nghiên cứu đi trước.
- Phương pháp điều tra khảo sát: Do diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 làm hạn chế tiếp xúc trực tiếp, tác giả sử dụng bảng hỏi trực tuyến thiết kế trên nền tảng Google Form với thang đo Likert 5 mức độ (từ Rất không đồng ý đến Rất đồng ý).
- Phương pháp xử lý số liệu: Dữ liệu khảo sát được làm sạch và xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel 2013.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch
Chương này trình bày bức tranh tổng quan về tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế. Trên thế giới, tác giả điểm qua nghiên cứu của Michael J. Enright và James Newton (2004) tại Hồng Kông, Băng Cốc và Singapore (sử dụng kiểm định ANOVA); nghiên cứu của Ines Milohnić và Dora S. Jurdana (2010) áp dụng phương pháp Benchmarking, hệ thống IDES và Thẻ điểm cân bằng (BSC); Kirstin Hallmann cùng cộng sự (2012) áp dụng mô hình Ritchie & Crouch tại khu nghỉ dưỡng thể thao mùa đông; Mohd Hafiz Hanafiah và cộng sự (2014) tiếp cận năng lực cạnh tranh dựa trên hiệu suất kinh doanh; cùng các công trình của Gianluca Goffi (2013) tại Ý và Ei Ei Khin (2014) tại Bagan (Myanmar). Tại Việt Nam, các nghiên cứu cấp quốc gia và vùng gồm công trình của Vụ Lữ hành - Tổng cục Du lịch (2007), Nguyễn Anh Tuấn (2010), Nguyễn Thị Thu Vân (2011 tại Đà Nẵng), Thái Thanh Hà và Đặng Ngọc Hiệp (2010 tại Huế). Riêng tại Vĩnh Phúc, các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận theo hướng khai thác tiềm năng (Nguyễn Thị Tố Nga, 2014), kinh tế du lịch giai đoạn 1997 - 2016 (Hoàng Thị Duyên, 2018), phát triển nguồn nhân lực (Đào Thị Kim Biên, 2012) hoặc quản lý nhà nước về du lịch (Phạm Thị Nhung, 2017). Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: chưa có công trình nào đánh giá trực diện và toàn diện năng lực cạnh tranh điểm đến của tỉnh Vĩnh Phúc. Từ việc phân tích ưu, nhược điểm của mô hình Crouch & Ritchie (2003) và Dwyer & Kim (2003), chương 1 kết luận bằng việc thiết lập mô hình nghiên cứu đề xuất 6 yếu tố phù hợp với phạm vi cấp tỉnh.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn về năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Vĩnh Phúc
Chương 2 tập trung phân tích nguồn lực thực tế và đánh giá định lượng năng lực cạnh tranh của địa phương:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Tỉnh Vĩnh Phúc nằm ở đỉnh châu thổ sông Hồng, giáp Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ và Hà Nội, nằm trên hành lang kinh tế Quốc lộ 2, đường sắt Hà Nội - Lào Cai và cao tốc Nội Bài - Lào Cai. Mật độ dân số đạt 932 người/km². Địa hình chia làm ba vùng: đồng bằng (76 xã, phường, thị trấn; 46.000 ha), đồi gò (33 xã, phường, thị trấn; 24.000 ha) và vùng núi thấp/trung bình (khoảng 56.300 ha, chiếm 46,3% diện tích tự nhiên). Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 23,8°C (riêng vùng núi Tam Đảo ở độ cao 1.000m đạt 18,4°C, thấp hơn đồng bằng 5°C). Hệ thống thủy văn gồm sông Hồng, sông Lô, sông Đáy, sông Cà Lồ, sông Phan, sông Cầu Bồn, sông Bá Hạ cùng 94 hồ đầm tự nhiên và nhân tạo (Đầm Vạc, hồ Đại Lải, hồ Thanh Lanh, hồ Xạ Hương...).
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: Khu du lịch Tam Đảo; hồ Đại Lải (khoảng 525 ha); đầm Vạc; hồ Thanh Lanh (120 ha) gắn liền thác Ba Ao; Vườn Quốc gia Tam Đảo (diện tích rừng quốc gia 15.000 ha trải dài qua Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang với các loài đặc hữu như cá cóc Tam Đảo, bướm kiếm); Vườn cò Hải Lựu (khoảng 15 ha, trong đó 7 ha chim cò cư trú).
- Tài nguyên du lịch văn hóa: Khu di tích danh thắng Tây Thiên gắn liền tín ngưỡng thờ Quốc mẫu Tây Thiên (chính hội 15/2 Âm lịch); Đại Bảo tháp Mandala Tây Thiên (cao 37m, diện tích sàn 1.500m² theo kiến trúc Phật giáo Kim Cương thừa); Tháp Bình Sơn - chùa Vĩnh Khánh (thời Lý - Trần, di tích quốc gia đặc biệt năm 2015, hiện còn 11 tầng tháp và 1 tầng bệ cao 16,5m); hệ thống thiền viện Trúc Lâm (Tây Thiên, An Tâm, Tuệ Đức); làng nghề truyền thống (làng mộc Bích Chu 300 năm, làng rắn Vĩnh Sơn, làng gốm Hương Canh); các lễ hội truyền thống như Lễ hội kéo song Hương Canh (UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2015), Lễ hội cướp phết Bàn Giản (mùng 7 tháng Giêng).
- Thực trạng cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật:
- Giao thông: Đường bộ có 105,3 km quốc lộ (loại tốt và khá chiếm 45,6%, trung bình 42,7%, xấu chiếm 12,25 km ở cuối QL 2C); đường tỉnh có 18 tuyến với 93,5 km nối ngoại tỉnh (tốt và khá chiếm 52,2%, trung bình 40%, xấu 22,4 km); đường sắt qua tỉnh dài 35 km khổ 1.000mm với 3 ga (Phúc Yên, Hương Canh, Vĩnh Yên); kết nối thuận lợi với sân bay quốc tế Nội Bài.
- Cơ sở lưu trú: Tính đến năm 2019, toàn tỉnh có 366 cơ sở lưu trú với gần 6.400 phòng. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,76%/năm về cơ sở và 12,62%/năm về số buồng phòng. Cơ sở cao cấp gồm các khu nghỉ dưỡng/khách sạn 5 sao (FLC Vĩnh Thịnh, Flamingo Đại Lải, The Star), 4 sao (Sông Hồng Thủ Đô, Westlake), 27 khách sạn 1 sao và 45 khách sạn 2-3 sao. Mật độ phân bổ phòng tập trung tại Vĩnh Yên (39,06%), Tam Đảo (33,59%) và Phúc Yên (17,97%). Công suất buồng phòng trung bình đạt khoảng 60% (mùa cao điểm đạt 70% - 80%).
- Cơ sở vui chơi, thể thao: Quy mô còn nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ dân cư nội địa (Soiva Plaza, khu vui chơi Sông Hồng Thủ Đô); thể thao có 3 sân golf hoạt động gồm Ngôi Sao Đại Lải, Nam Đầm Vạc và sân golf Tam Đảo.
- Kết quả khảo sát thực chứng: Tác giả phát ra 100 phiếu khảo sát, thu về 100 phiếu, loại 03 phiếu không hợp lệ, còn lại 97 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 97%).
| Tiêu chí |
Phân loại |
Số lượng (người) |
Tỷ lệ (%) |
| Giới tính |
Nam |
45 |
46,4 |
|
Nữ |
52 |
53,6 |
| Độ tuổi |
Dưới 18 tuổi |
2 |
2,1 |
|
Từ 18 đến 30 tuổi |
52 |
53,8 |
|
Từ 31 đến 40 tuổi |
19 |
19,6 |
|
Từ 41 đến 50 tuổi |
9 |
9,3 |
|
Trên 50 tuổi |
5 |
5,2 |
| Trình độ học vấn |
Dưới trung học phổ thông |
3 |
3,1 |
|
Trung học phổ thông |
35 |
37,1 |
|
Cao đẳng, đại học |
52 |
53,6 |
|
Trên đại học |
6 |
6,2 |
| Nghề nghiệp |
Cán bộ, công viên chức, giáo viên |
6 |
6,2 |
|
Công nhân |
2 |
2,1 |
|
Doanh nhân, nhân viên công ty |
16 |
16,5 |
|
Học sinh, sinh viên |
55 |
56,7 |
|
Nhóm nghề nghiệp khác |
18 |
18,5 |
| Nguồn thông tin tiếp cận |
Người thân, bạn bè |
63 |
64,9 |
|
Internet |
65 |
67,0 |
|
Truyền hình |
20 |
20,6 |
|
Sách, báo, tạp chí |
16 |
16,5 |
(Nguồn: Bảng 2.1 trong văn bản khóa luận)
Đánh giá mức độ đồng ý của du khách về yếu tố Sự hấp dẫn của điểm đến (Biểu đồ 2.1):
- Tỷ lệ Rất đồng ý: 22,5%
- Tỷ lệ Đồng ý: 47,8%
- Tỷ lệ Bình thường: 28,7%
- Tỷ lệ Không đồng ý: 1,0%
- Tỷ lệ Rất không đồng ý: 0,0%
Kết quả chỉ ra tiêu chí khí hậu, thời tiết và cảnh quan sinh thái được đánh giá cao nhất. Ngược lại, khâu khai thác tài nguyên gắn với công tác bảo tồn, giữ gìn vẫn còn nhận phản hồi chưa tích cực. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật (hệ thống vui chơi giải trí, số lượng và chất lượng cơ sở lưu trú bình dân) vẫn là điểm nghẽn kìm hãm năng lực cạnh tranh.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Vĩnh Phúc đến năm 2030
Dựa trên quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2030, tác giả đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Gia tăng sự hấp dẫn của điểm đến: Chú trọng khai thác tài nguyên đi đôi với bảo tồn môi trường sinh thái; ngăn chặn việc bê tông hóa và khai thác quá mức tại Tam Đảo, Đại Lải; giữ gìn các giá trị cảnh quan tự nhiên và bản sắc văn hóa cổ truyền.
- Nâng cao chất lượng, số lượng cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật: Tiếp tục nhựa hóa và cải tạo các đoạn đường chất lượng xấu (như đoạn cuối QL 2C và các tuyến đường tỉnh); thu hút đầu tư phát triển hệ thống cơ sở lưu trú đạt chuẩn chất lượng cao; bổ sung các khu vui chơi giải trí phức hợp quy mô lớn nhằm giữ chân du khách.
- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch: Xây dựng các chuỗi sản phẩm đặc thù kết hợp giữa nghỉ dưỡng sinh thái, du lịch thể thao (golf), du lịch tâm linh (Tây Thiên, tháp Bình Sơn, các thiền viện) và du lịch trải nghiệm làng nghề (Bích Chu, Vĩnh Sơn, gốm Hương Canh).
- Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch: Tăng cường bảo đảm an ninh trật tự, bình ổn giá cả dịch vụ trong các mùa lễ hội; kiểm soát vệ sinh môi trường; thiết lập hệ thống kiểm duyệt và quản lý an ninh thông tin, phản hồi truyền thông trên môi trường số.
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch: Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ lữ hành, buồng phòng, ngoại ngữ và thái độ phục vụ văn minh cho đội ngũ lao động trực tiếp; bồi dưỡng kiến thức văn hóa địa phương cho hướng dẫn viên.
- Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch: Đẩy mạnh marketing điện tử, tận dụng truyền thông mạng xã hội và cổng thông tin trực tuyến (do tỷ lệ du khách tiếp cận thông tin qua Internet chiếm tới 67%); đẩy mạnh liên kết tour tuyến với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc.
Bên cạnh các giải pháp chuyên môn, tác giả xây dựng nhóm khuyến nghị thực hiện đối với hai chủ thể quản lý chính:
- Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Hỗ trợ định hướng quy hoạch không gian du lịch quốc gia, hỗ trợ công tác xúc tiến quảng bá tầm cỡ quốc tế và bố trí các nguồn vốn đầu tư hạ tầng khung.
- Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: Ban hành cơ chế chính sách thu hút đầu tư thông thoáng, ưu tiên ngân sách nâng cấp giao thông kết nối các điểm di tích, giám sát chặt chẽ công tác bảo vệ môi trường và phê duyệt đề án phát triển nguồn nhân lực du lịch địa phương.
Kết quả và đóng góp của nghiên cứu
Khóa luận đã ghi nhận các kết quả cụ thể dựa trên số liệu thực tế:
- Cung cấp dữ liệu định lượng thực chứng về chân dung khách du lịch đến Vĩnh Phúc trong bối cảnh dịch bệnh: Khách nội địa trẻ tuổi chiếm áp đảo (độ tuổi 18 - 30 chiếm 53,8%; học sinh, sinh viên chiếm 56,7%); kênh tiếp cận thông tin chủ lực là Internet (67,0%) và người thân, bạn bè (64,9%).
- Đo lường mức độ cạnh tranh của yếu tố hấp dẫn điểm đến: Tổng tỷ lệ đánh giá tích cực đạt 70,3% (47,8% đồng ý và 22,5% rất đồng ý), tỷ lệ trung lập chiếm 28,7%, trong khi tỷ lệ tiêu cực rất thấp (chỉ 1,0% không đồng ý và 0% rất không đồng ý).
- Chỉ ra cụ thể các con số về thực trạng cung du lịch tính đến năm 2019: Toàn tỉnh có 366 cơ sở lưu trú với gần 6.400 phòng; tập trung mất cân đối ở 3 địa bàn (Vĩnh Yên 39,06%, Tam Đảo 33,59%, Phúc Yên 17,97%); hạ tầng giao thông còn 12,25 km đường quốc lộ và 22,4 km đường tỉnh xếp loại mặt đường xấu.
Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn:
- Đóng góp lý luận: Tác giả đã vận dụng kết hợp mô hình lý thuyết quốc tế của Crouch & Ritchie (2003) và Dwyer & Kim (2003) để tinh gọn thành mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch cấp tỉnh gồm 6 thành phần và 30 chỉ báo phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
- Đóng góp thực tiễn: Đây là một trong số ít các công trình nghiên cứu trực diện về năng lực cạnh tranh du lịch tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả phân tích đã vạch rõ những điểm nghẽn cố hữu về cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở vui chơi giải trí, làm cơ sở thực tế cho các cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành xây dựng giải pháp đến năm 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Dựa trên những khó khăn khách quan mà tác giả tự thừa nhận trong phần Lời cảm ơn và giới hạn của đề tài:
- Hạn chế về nguồn lực và hoàn cảnh dịch bệnh: Nghiên cứu được triển khai trong giai đoạn diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, dẫn đến việc không thể tổ chức điều tra khảo sát trực tiếp du khách tại các điểm đến thực địa, buộc phải chuyển sang hình thức gửi bảng hỏi trực tuyến qua Google Form.
- Hạn chế về mẫu khảo sát: Quy mô mẫu tương đối nhỏ (97 phiếu hợp lệ); cơ cấu mẫu chưa mang tính đại diện cao cho toàn bộ tổng thể du khách khi nhóm học sinh, sinh viên chiếm tới 56,7% và nhóm tuổi từ 18 - 30 chiếm 53,8%, làm kết quả đánh giá chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm tiêu dùng của phân khúc khách trẻ tuổi có thu nhập thấp.
- Hạn chế về phương pháp xử lý: Nghiên cứu dừng lại ở mức độ thống kê mô tả tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm Microsoft Excel 2013, chưa áp dụng các kỹ thuật định lượng chuyên sâu (như phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy tương quan hay mô hình cấu trúc tuyến tính SEM) để lượng hóa mức độ tác động của từng yếu tố lên năng lực cạnh tranh tổng thể.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trực tiếp sau khi các hoạt động du lịch trở lại trạng thái bình thường, bảo đảm cơ cấu mẫu phân tầng đa dạng hơn về lứa tuổi, nghề nghiệp và thu nhập.
- Ứng dụng các phần mềm chuyên dụng (như SPSS, AMOS) để kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha), chạy mô hình hồi quy hoặc so sánh đối chuẩn (Benchmarking) năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc với các tỉnh có điều kiện tương đồng trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành, Quản trị khách sạn và Kinh tế phát triển đang tìm kiếm tài liệu tham khảo về phương pháp xây dựng mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến cấp địa phương.
- Người làm đề tài nghiên cứu về du lịch Vĩnh Phúc: Có thể khai thác bảng hệ thống hóa số liệu chi tiết về vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, tài nguyên sinh thái (Vườn quốc gia Tam Đảo, hồ Đại Lải, đầm Vạc), hệ thống di tích (Tây Thiên, tháp Bình Sơn) và dữ liệu hạ tầng, mạng lưới cơ sở lưu trú của tỉnh.
- Các nhà quản lý ngành du lịch tại Vĩnh Phúc (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hiệp hội Du lịch tỉnh): Tham khảo bảng hỏi 30 biến quan sát cùng các khuyến nghị chính sách để ứng dụng vào công tác quy hoạch, xúc tiến quảng bá và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận kế thừa và tích hợp các mô hình lý thuyết quốc tế nào để đề xuất mô hình nghiên cứu?
Tác giả kế thừa hai mô hình nền tảng: Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến của Crouch và Ritchie (2003) và mô hình của Dwyer và Kim (2003). Tác giả đã lược bỏ các yếu tố mang tầm vĩ mô quốc gia (ý chí chính trị, kiến trúc thượng tầng) và tách yếu tố Nguồn nhân lực thành một nhóm độc lập, hình thành mô hình riêng gồm 6 nhóm yếu tố phù hợp với địa phương cấp tỉnh.
2. Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả gồm những nhóm yếu tố nào và bao nhiêu biến quan sát?
Mô hình gồm 6 nhóm yếu tố với tổng cộng 30 biến quan sát: Sự hấp dẫn của điểm đến (5 biến), Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật (10 biến), Sản phẩm và dịch vụ du lịch (3 biến), Công tác quản lý điểm đến (4 biến), Nguồn nhân lực (4 biến) và Điều kiện cầu (4 biến).
3. Khảo sát thực chứng của đề tài được triển khai bằng phương thức nào và quy mô mẫu ra sao?
Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, tác giả khảo sát bằng bảng hỏi trực tuyến qua Google Form sử dụng thang đo Likert 5 mức độ từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2021. Mẫu thu thập gồm 100 phiếu, sau khi loại 03 phiếu không hợp lệ, tác giả sử dụng 97 phiếu hợp lệ để phân tích trên Microsoft Excel 2013.
4. Dữ liệu khảo sát ghi nhận tỷ lệ đánh giá của du khách về sự hấp dẫn của điểm đến du lịch Vĩnh Phúc như thế nào?
Kết quả tại Biểu đồ 2.1 cho thấy: 22,5% du khách đánh giá rất đồng ý, 47,8% đồng ý, 28,7% đánh giá bình thường, 1,0% không đồng ý và 0,0% rất không đồng ý. Tiêu chí khí hậu, thời tiết ôn hòa được đánh giá cao nhất, trong khi công tác khai thác gắn với gìn giữ tài nguyên nhận được nhiều ý kiến băn khoăn.
5. Thực trạng quy mô cơ sở lưu trú tại tỉnh Vĩnh Phúc được tác giả ghi nhận đến năm 2019 có những số liệu cụ thể nào?
Tính đến năm 2019, Vĩnh Phúc có 366 cơ sở lưu trú du lịch với gần 6.400 phòng (tốc độ tăng trưởng bình quân 6,76%/năm về cơ sở và 12,62%/năm về số phòng). Toàn tỉnh có các cơ sở 5 sao như FLC Vĩnh Thịnh, Flamingo Đại Lải, The Star; các cơ sở 4 sao như Sông Hồng Thủ Đô, Westlake; 27 khách sạn 1 sao và 45 khách sạn 2-3 sao; tập trung chủ yếu ở Vĩnh Yên (39,06%), Tam Đảo (33,59%) và Phúc Yên (17,97%).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Bùi Văn Hiệp đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch và xây dựng mô hình khảo sát thực nghiệm gồm 6 nhóm yếu tố phù hợp với đặc thù tỉnh Vĩnh Phúc. Thông qua việc phân tích thực trạng tài nguyên, kết cấu hạ tầng và xử lý 97 phiếu khảo sát du khách trong bối cảnh đại dịch Covid-19 năm 2021, công trình đã chỉ rõ các điểm nghẽn về cơ sở vui chơi giải trí và công tác bảo tồn tài nguyên du lịch. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp cùng các kiến nghị cụ thể đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến với tầm nhìn đến năm 2030.