CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG DU LỊCH 1. Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất, trao đổi hàng hóa phát triển kinh tế thị trường, từ cạnh tranh đã xuất hiện. Tuy nhiên có rất nhiều quan điểm đưa ra khái niệm cạnh tranh khác nhau.
Theo định nghĩa của từ điển điện tử Wikipedia nghĩa chung nhất: “Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác”. [29] Từ điển kinh doanh của Anh, cạnh tranh được hiểu là: “Sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”.[1] Theo cuốn kinh tế học của P.Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”. [15] Adam Smith đã có lý luận về cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh có tác dụng quan trọng trong việc thúc đẩy lao động và điều tiết việc phân phối yếu tố tư bản một cách hợp lý. Một là, cạnh tranh kích thích nhiệt tình người lao động, kích thích người lao động nắm vững, thành thạo kỹ xảo, nâng cao năng lực.
Ngược lại, nếu ngừng cạnh tranh thì không có đất phát huy kỹ năng hoặc tài năng phát minh”. “Hai là, việc tuyển chọn lao động, tự nó làm cho các chủ thể cạnh tranh với nhau, làm cho tiền lương tăng lên hoặc giảm xuống, sức lao động được tự do lưu động giữa các ngành, giữa các các doanh nghiệp”. 8 “Ba là, nhà tư bản theo đuổi lợi nhuận, do nguyên nhân cạnh tranh, tư bản chảy vào ngành có lợi nhuận nhiều nhất, các nhà tư bản cạnh tranh với nhau, dĩ nhiên là lợi nhuận trong ngành này giảm xuống”. [3, 68-75] Nhà sinh vật học Charles Robert Darwin đề ra tư tưởng: “Vật cánh thiên trạch, thích giả sinh tồn”, cạnh tranh theo ý nghĩa sinh vật học là quá trình sinh vật không ngừng thích ứng với môi trường bên ngoài để duy trì sự tồn tại của mình, nó là động lực tiến bộ không ngừng của sinh vật, và xuyên suốt toàn bộ quá trình tiến hóa của mọi sinh vật.
Phân công xã hội là sản phẩm tất yếu của sự phát triển của xã hội loài người tới một giai đoạn nhất định, có phân công xã hội thì có trao đổi, thị trường và cũng có cạnh tranh mạnh thắng, yếu thua “kẽ thích ứng thì sống”. [3, 84-87] Trong khi đó lý luận cạnh tranh của C.Mác dựa vào điều kiện cơ bản nhất: “Phân công xã hội là sản phẩm tất yếu của sự phát triển của xã hội loài người tới một giai đoạn nhất định, có phân công xã hội thì có trao đổi, thị trường và cũng có cạnh tranh”. Lý luận cạnh tranh của C.Mác chủ yếu có các mặt sau: + Quy luật cạnh tranh là quy luật cùng tác động với quy luật giá trị thặng dư. + Cạnh tranh là sức mạnh thúc đẩy gia tăng giá trị thặng dư tương đối.
+ Cạnh tranh thúc đẩy sự lưu động các yếu tố sản xuất và phân phối tài nguyên. + Cạnh tranh là điều tiết phân phối lợi nhuận. [3, 88-96] Với những quan niệm trên, phạm trù cạnh tranh được hiểu là quan hệ kinh tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích.
Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Đo lường tính cạnh tranh Tính cạnh tranh sẽ trở thành hữu ích khi đo lường được. Để làm được điều này thì phải cụ thể hóa tính cạnh tranh. Tính cạnh tranh được đo lường từ mối quan hệ kinh tế cơ bản: Y = ƒ(K, L, Công nghệ).
9 Công thức này thể hiện thu nhập (hay đầu ra) phụ thuộc vào lượng về vốn(K) ( hay đầu vào), lao động bao gồm cả vốn con người (L) và công nghệ. Đầu vào càng nhiều thì đầu ra càng lớn. Để biết được những ảnh hưởng nào làm tăng mức đầu vào? Mô hình kim cương do Michael Porter xây dựng (1998) được trình bày sau đây sẽ trả lời câu hỏi này.1: Các yếu tố quyết định tính cạnh tranh trong vùng (Nguồn: Michael Porter, 1998) Tính cạnh tranh trong vùng được quyết định bởi các yếu tố sau: + Các điều kiện nhân tố: Đó chính là mức độ sẵn có, chất lượng và chi phí đầu vào. Các đầu vào gồm có: Nguồn nhân lực, tài chính, các nguồn lực tự nhiên và cơ sở hạ tầng (vật chất, tài chính, thông tin).
+ Các điều kiện nhu cầu: Cụ thể là mức độ đòi hỏi cao của nhu cầu tại địa phương. 10 + Các ngành hỗ trợ và có liên quan: Chú trọng vào năng lực của các nhà cung cấp có tại địa phương. Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm các qui tắc, động cơ và áp lực chi phối cạnh tranh tại địa phương, bao gồm cả vai trò chính quyền. Các bộ phận cấu thành tính cạnh tranh Tính cạnh tranh được cấu thành bởi chín bộ phận, mỗi bộ phận có đặc tính khác nhau nhưng đều ảnh hưởng trực tiếp đến tính cạnh tranh của khu vực, vùng miền.
+ Chính sách của chính quyền và chính sách tài khóa: Khả năng doanh nghiệp trở nên hưng thịnh sẽ cao hơn trong một khu vực có thuế suất vừa phải, với chính quyền có năng lực và minh bạch. + Các thể chế: Một khu vực trở nên hấp dẫn hơn với doanh nghiệp nếu như hệ thống pháp lý thông cảm với các mối lo lắng của doanh nghiệp, bớt gánh nặng về thủ tục pháp lý, và mức tội phạm thấp. + Cơ sở hạ tầng: Chất lượng và chi phí của cơ sở hạ tầng như đường, điện, nước và viễn thông, là các bộ phận cấu thành quan trọng của tính cạnh tranh vì chúng ảnh hưởng đến chi phí tiến hành hoạt động kinh doanh. + Nguồn nhân lực: Các doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công nếu họ thuê được lao động có chất lượng cao với mức tiền lương vừa phải.
+ Công nghệ: Sự phát triển và ứng dụng công nghệ là trọng tâm của phát triển kinh tế, và thực tế đã chứng minh như vậy sau cách mạng công nghiệp. + Tài chính: Các doanh nghiệp cần có khả năng huy động tài chính cho đầu tư, từ nguồn nội bộ và từ hệ thống tài chính, cho mục đích tăng trưởng và phân tán rủi ro. + Tính mở: Khi các thành phố mở cửa hoạt động thương mại, các doanh nghiệp của họ sẽ có tính cạnh tranh cao hơn, do các doanh nghiệp phải tuân theo các quy luật của thị trường thế giới. Điều này khiến cho các doanh nghiệp nâng cao năng suất, ít ỷ lại vào việc vận động để được bảo hộ trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu.
11 + Các ngành hỗ trợ: Một khu vực có thể có tính cạnh tranh cao hơn nếu như sẵn có các nhà cung cấp và các ngành hỗ trợ tại địa phương có năng lực. Điều này sẽ tạo ra các cụm doanh nghiệp, có tiềm năng cũng cố lẫn nhau. + Tính cạnh tranh trong nước: Các doanh nghiệp sẽ có tính cạnh tranh cao hơn nếu như các khách hàng của họ hiểu biết và đòi hỏi khắc khe, bởi vì điều đó buột họ phải cải thiện chất lượng và giá cả của sản phẩm. Năng lực cạnh tranh Thuật ngữ năng lực cạnh tranh mặc dù được sử dụng rộng rãi nhưng rất khó đo lường.
Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học: “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa năng lực cạnh tranh là “Khả năng của các công ty, các ngành, các địa phương, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”. Các cấp độ năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh nói chung được định nghĩa trên ba cấp độ khác nhau: Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ; Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp; Năng lực cạnh tranh quốc gia. Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao, với nhiều sản phẩm và dịch vụ có lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
+ Năng lực cạnh tranh sản phẩm Năng lực cạnh tranh sản phẩm là tập hợp các vấn đề liên quan đề sản phẩm như chính sách, thị hiếu thị trường, chiến lược quảng bá và tiếp thị, tiêu thụ hàng hóa và các vấn đề về xã hội. [28] Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là gì? Năng lực cạnh tranh của một sản phẩm là sự thể hiện thông qua các lợi thế so sánh đối với sản phẩm cùng loại. Lợi thế so sánh của một sản phẩm bao hàm các yếu tố bên trong và bên ngoài tạo nên, như năng lực sản xuất, chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, dung lượng thị trường của sản phẩm. [38] 12 + Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình.