Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị của tác giả Nguyễn Anh Tuấn, bảo vệ năm 2010 tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, tiếp cận vấn đề năng lực cạnh tranh (NLCT) điểm đến du lịch ở cấp độ quốc gia. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), trong thế kỷ XXI, du lịch trở thành hoạt động kinh tế có vị trí quan trọng trên phạm vi toàn cầu. Cùng với sự phát triển của du lịch quốc tế, thị trường du lịch xuất hiện nhiều điểm đến mới, làm gia tăng áp lực cạnh tranh giữa các quốc gia. Tại Việt Nam, giai đoạn 2000–2009 ghi nhận sự tăng trưởng về lượng khách và đóng góp vào nền kinh tế, song lượng khách quốc tế cũng như thu nhập du lịch vẫn ở mức thấp, chưa tương xứng với tiềm năng tài nguyên thiên nhiên và nhân văn. Trong các Báo cáo Năng lực cạnh tranh Du lịch và Lữ hành của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) từ năm 2007 đến 2009, Việt Nam liên tục xếp thứ hạng thấp hơn so với các quốc gia trong khu vực như Malaysia, Thái Lan, Singapore, Indonesia và Trung Quốc. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng một công trình khoa học đánh giá toàn diện thực trạng NLCT điểm đến của Du lịch Việt Nam trên cơ sở lý luận kinh tế chính trị và các mô hình định lượng, định tính quốc tế.

Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. NLCT điểm đến của Du lịch Việt Nam hiện nay như thế nào?
  2. Phải chăng, Du lịch Việt Nam đang ở thế yếu về NLCT điểm đến so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực?
  3. Nguyên nhân nào làm cho Việt Nam trong nhiều năm liền không vượt qua được các đối thủ cạnh tranh trong khu vực trong bảng xếp hạng NLCT du lịch của WEF?
  4. Phải có chính sách như thế nào để Du lịch Việt Nam cải thiện được thứ hạng, nâng cao được vị thế cạnh tranh điểm đến trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ cạnh tranh trong khu vực?

Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá thực trạng NLCT điểm đến của Du lịch Việt Nam, từ đó xác lập các quan điểm phát triển và đề xuất hệ thống khuyến nghị về chính sách, giải pháp nhằm nâng cao NLCT điểm đến du lịch quốc gia.

Để đạt được mục tiêu này, luận án xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh, NLCT và NLCT điểm đến; phân tích các mô hình lý thuyết để lựa chọn khung phân tích phù hợp; nghiên cứu các hệ thống chỉ số đánh giá NLCT điểm đến.
  2. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về nâng cao NLCT điểm đến tại các nước có điều kiện tương đồng và là đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong khu vực (Malaysia, Thái Lan), cùng một quốc gia có thứ hạng cạnh tranh hàng đầu thế giới (Thụy Sĩ), nhằm rút ra bài học cho Việt Nam.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng NLCT điểm đến của Du lịch Việt Nam dựa trên mô hình lý thuyết kết hợp và chỉ số xếp hạng của WEF trong tương quan với các nước khu vực.
  4. Xây dựng phiếu điều tra và thực hiện khảo sát các tổ chức, doanh nghiệp du lịch trong nước và nước ngoài thông qua nền tảng trực tuyến Survey Monkey để thu thập dữ liệu sơ cấp.
  5. Áp dụng phương pháp phân tích SWOT để tổng hợp các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với NLCT điểm đến của Du lịch Việt Nam.
  6. Đề xuất hệ thống quan điểm và các nhóm khuyến nghị về chính sách, giải pháp nâng cao NLCT điểm đến cho giai đoạn 2011–2015, định hướng đến năm 2020.

Đối tượng nghiên cứu là NLCT điểm đến của Du lịch Việt Nam, trong đó điểm đến được xác định ở quy mô toàn bộ quốc gia, bao gồm các yếu tố cấu thành: nguồn lực thừa hưởng, nguồn lực sáng tạo, các nhân tố và nguồn lực hỗ trợ, quản lý điểm đến, điều kiện thực tế, điều kiện cầu và cơ chế chính sách tác động.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Tập trung vào Du lịch Việt Nam trong tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh chính tại khu vực Đông Nam Á (Malaysia, Thái Lan, Singapore, Indonesia); kinh nghiệm thực tiễn được khảo sát tại Malaysia, Thái Lan và Thụy Sĩ.
  • Thời gian: Dữ liệu phân tích thực trạng tập trung vào giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2009 (nhấn mạnh giai đoạn 2005–2009); các đề xuất chính sách hướng tới giai đoạn 2011–2015 và tầm nhìn đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong văn bản luận án phân chia thành hai nhóm nghiên cứu quốc tế và trong nước:

Về nghiên cứu quốc tế, tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu:

  • Auliana Poon (1993) trong công trình Du lịch, Công nghệ và Chiến lược cạnh tranh xác lập 4 nguyên tắc cạnh tranh của điểm đến: ưu tiên hàng đầu cho môi trường, đưa du lịch thành ngành kinh tế hàng đầu, tăng cường các kênh phân phối và phát triển khu vực tư nhân năng động.
  • Hassan (2000) xây dựng mô hình NLCT gắn với tính bền vững môi trường, xác định 4 yếu tố quyết định: lợi thế so sánh, định hướng cầu, cấu trúc ngành và cam kết môi trường.
  • Kozak & Remmington (2000) cùng Haahti & Yavas (1983) phát triển hướng tiếp cận sử dụng dữ liệu điều tra cảm nhận và trải nghiệm thực tế của khách du lịch.
  • Dwyer (2000) khai thác nguồn dữ liệu công bố của Summers & Heston để đo lường NLCT giá giữa các điểm đến.
  • Crouch & Ritchie (1999, 2003) với công trình Điểm đến cạnh tranh - triển vọng du lịch bền vững, vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo và mô hình viên kim cương của Michael Porter để xây dựng mô hình 36 yếu tố thuộc 5 nhóm nhân tố.
  • Dwyer & Kim (2003) kế thừa Crouch & Ritchie để xây dựng mô hình kết hợp về NLCT điểm đến, tích hợp rõ nét các chỉ số điều kiện cầu và chỉ số thịnh vượng kinh tế - xã hội.
  • Các báo cáo ứng dụng thực tiễn: Báo cáo năm 2004 của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC) gồm 8 chỉ số cho 212 quốc gia; Báo cáo Năng lực cạnh tranh Du lịch và Lữ hành hàng năm của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) từ năm 2007 với 13 bộ chỉ số và 70 biến số cho trên 124–130 nền kinh tế.
  • Các dự án quốc tế tại Việt Nam: Dự án VIE/89-003 của UNWTO và UNDP (1989) về kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch; Dự án hỗ trợ kỹ thuật của Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Tây Ban Nha (2003) về xây dựng năng lực du lịch.

Về nghiên cứu trong nước:

  • Khảo sát của tác giả tại Thư viện Quốc gia Hà Nội tính đến hết năm 2009 cho thấy, trong số 65 luận án tiến sĩ về du lịch đã bảo vệ, không có luận án nào nghiên cứu về NLCT điểm đến của Du lịch Việt Nam.
  • Đề tài cấp bộ do Vụ Thương mại và Dịch vụ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) chủ trì năm 2006 do UNDP tài trợ mang tên Khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hoá ngành Du lịch chỉ dừng lại ở đánh giá tác động của mở cửa thị trường và nhận định khái quát.
  • Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2007 khảo sát NLCT trong lĩnh vực lữ hành quốc tế; đề tài cấp bộ năm 2009 tập trung vào sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh.
  • Luận văn thạc sĩ của chính tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2006) mang tên Nâng cao năng lực cạnh tranh của Du lịch Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế chỉ sử dụng số liệu thứ cấp và chưa phân tích điểm đến cấp quốc gia.

Khoảng trống học thuật: Đến thời điểm năm 2010, Việt Nam chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống NLCT điểm đến quốc gia bằng việc áp dụng một mô hình lý thuyết quốc tế hoàn chỉnh, kết hợp việc khai thác chỉ số WEF với dữ liệu điều tra thực nghiệm đồng thời từ phía cung (doanh nghiệp trong nước) và phía cầu (doanh nghiệp lữ hành quốc tế đưa khách vào Việt Nam).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị về cạnh tranh và các học thuyết kinh tế:

  • Quan điểm của các nhà triết học khai sáng và thuyết vị lợi của Jeremy Bentham về tự do kinh tế và lợi ích cá nhân.
  • Lý thuyết của Adam Smith về phân công lao động, tự do cạnh tranh trong Nguồn gốc sự giàu có của các dân tộc; John Stuart Mill về vai trò điều tiết xã hội.
  • Lý luận của Karl Marx trong tác phẩm Tư bản: Cạnh tranh xuất hiện từ phân công lao động xã hội và chế độ tư hữu; diễn ra trên ba bình diện: cạnh tranh giá thành thông qua tăng năng suất lao động để chiếm đoạt giá trị thặng dư siêu ngạch, cạnh tranh chất lượng để tăng giá trị sử dụng, và cạnh tranh giữa các ngành thông qua di chuyển tư bản hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
  • Kinh tế học Tân cổ điển về cạnh tranh hoàn hảo; Trường phái Harvard về cấu trúc ngành; quan điểm của Joseph Schumpeter về cạnh tranh động và đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế tri thức.
  • Mô hình viên kim cương của Michael Porter (1990) gồm 4 yếu tố nội tại: điều kiện nhân tố, điều kiện cầu, các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan, chiến lược - cơ cấu - mức độ cạnh tranh nội bộ ngành, chịu sự tác động của chính phủ và các sự kiện bất thường.
  • Bốn cấp độ cạnh tranh: cấp quốc gia, cấp ngành, cấp doanh nghiệp và cấp sản phẩm hàng hóa.

Về khái niệm, luận án tiếp thu định nghĩa điểm đến của UNWTO và xác định điểm đến trong nghiên cứu là toàn bộ lãnh thổ quốc gia Việt Nam. Tác giả đưa ra định nghĩa riêng về NLCT điểm đến: "Khả năng của một điểm đến cạnh tranh với điểm đến khác một cách hiệu quả trên thị trường du lịch khu vực và quốc tế, mang lại sự trải nghiệm thoả mãn hơn cho khách du lịch và sự thịnh vượng bền vững hơn cho người dân địa phương". Khái niệm này cấu thành từ 3 nội dung: (1) Cạnh tranh hiệu quả và sinh lợi hơn đối thủ; (2) Mang lại trải nghiệm thỏa mãn cho du khách; (3) Tạo ra mức sống cao và sự thịnh vượng bền vững cho cộng đồng dân cư sở tại.

Khung phân tích chính của luận án là mô hình kết hợp của Dwyer & Kim (2003). Mô hình này được lựa chọn sau khi so sánh với mô hình của Crouch & Ritchie (2003). Mô hình Dwyer & Kim khắc phục nhược điểm thiếu vắng phía cầu của mô hình Crouch & Ritchie, đưa điều kiện cầu thành một khối độc lập, đồng thời phân định rõ hạ tầng du lịch (thuộc nguồn lực sáng tạo) với hạ tầng chung (thuộc nguồn lực hỗ trợ), chuyển biến môi trường vĩ mô và vi mô thành "điều kiện thực tế", và gắn trực tiếp NLCT điểm đến với chỉ số thịnh vượng kinh tế - xã hội.

Khối yếu tố theo mô hình Dwyer & Kim Số lượng chỉ số Các nội dung đại diện
Nguồn lực thừa hưởng 11 chỉ số Khí hậu; cảnh quan thiên nhiên; vệ sinh điểm đến; động thực vật; di tích lịch sử; di sản văn hóa; kiến trúc; nghệ thuật truyền thống; ẩm thực; vườn quốc gia; làng cổ.
Nguồn lực sáng tạo 17 chỉ số Lễ hội; công viên giải trí; hoạt động thể thao nước; đời sống giải trí về đêm; cơ sở lưu trú; chất lượng sân bay; thông tin hướng dẫn; dịch vụ ẩm thực; mua sắm; du lịch hội nghị (MICE).
Nhân tố và nguồn lực hỗ trợ 10 chỉ số Hạ tầng y tế; dịch vụ tài chính/ngân hàng; bưu chính viễn thông; an ninh an toàn; cự ly/thời gian bay; đường bay trực tiếp; chính sách thị thực; liên kết vận tải.
Quản lý điểm đến 37 chỉ số Ứng dụng thương mại điện tử và CNTT; năng lực quản lý; tiêu chuẩn dịch vụ; quy hoạch phát triển; đào tạo nhân lực; chính sách phát triển cộng đồng; hợp tác công - tư; liên kết ngành.
Điều kiện cầu 4 chỉ số Mức độ nhận biết quốc tế về điểm đến; nhận biết về sản phẩm cụ thể; mức độ phù hợp giữa sản phẩm và thị hiếu; hình ảnh điểm đến nói chung.

Bên cạnh đó, luận án sử dụng khung chỉ số đánh giá của WEF bao gồm 3 nhóm trụ cột lớn, 13 bộ chỉ số và 70 biến số:

  1. Nhóm luật pháp và chính sách: Khung pháp lý; quy định môi trường; an toàn và an ninh; y tế và vệ sinh; mức độ ưu tiên cho ngành du lịch.
  2. Nhóm môi trường kinh doanh và hạ tầng: Hạ tầng hàng không; hạ tầng giao thông đường bộ; hạ tầng dịch vụ du lịch; hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT); mức độ cạnh tranh về giá.
  3. Nhóm nguồn lực: Nguồn nhân lực du lịch; nhận thức quốc gia về du lịch; tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Thu thập, hệ thống hóa các lý thuyết cạnh tranh, các văn bản chính sách và báo cáo thống kê ngành du lịch.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các chỉ số cạnh tranh du lịch của Việt Nam với các quốc gia Đông Nam Á (Malaysia, Thái Lan, Singapore, Indonesia) theo dữ liệu của WEF; so sánh đối chuẩn kinh nghiệm phát triển du lịch của Malaysia, Thái Lan và Thụy Sĩ.
  • Phương pháp điều tra xã hội học qua mạng: Tác giả thiết kế mẫu phiếu hỏi dựa trên bảng chỉ số của Dwyer & Kim, sử dụng nền tảng phần mềm trực tuyến Survey Monkey để thu thập dữ liệu sơ cấp. Khảo sát được thực hiện trên hai nhóm đối tượng độc lập:
    • Đại diện phía cung: Các tổ chức, nhà quản lý và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch trong nước.
    • Đại diện phía cầu: Các tổ chức, đại lý lữ hành và doanh nghiệp du lịch nước ngoài có gửi khách hoặc bán tour tới Việt Nam. Toàn bộ dữ liệu khảo sát được hệ thống xử lý tự động theo thang đo 5 mức độ (Likert từ 1 đến 5 với trọng số đồng đều).
  • Phương pháp ma trận SWOT: Đánh giá tổng hợp điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) của Du lịch Việt Nam.
  • Nguồn tư liệu: Báo cáo thường niên của UNWTO, WTTC, WEF giai đoạn 2007–2009; số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam (1990–2009); số liệu của Cục Xúc tiến Du lịch Malaysia (Tourism Malaysia), Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) và Cơ quan Du lịch Thụy Sĩ (ST).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh điểm đến

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về cạnh tranh, xác lập các định nghĩa, hình thái và cấp độ cạnh tranh kinh tế. Tác giả phân tích cạnh tranh theo chủ thể, hình thái (hoàn hảo và không hoàn hảo gồm độc quyền nhóm, cạnh tranh độc quyền), mục tiêu kinh tế (cạnh tranh trong nội bộ ngành hình thành giá trị thị trường, cạnh tranh giữa các ngành hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân; cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang) và phạm vi lãnh thổ. Luận án phân định 4 cấp độ cạnh tranh: cấp quốc gia (đo lường bằng năng suất quốc gia và môi trường thể chế kinh tế vĩ mô), cấp ngành, cấp doanh nghiệp và cấp sản phẩm.

Về lý luận điểm đến, chương này phân tích khái niệm điểm đến theo UNWTO, làm rõ bản chất của tính hấp dẫn điểm đến dưới góc độ thỏa mãn nhu cầu du khách. Tác giả phân tích và so sánh hai mô hình lý thuyết: mô hình của Crouch & Ritchie (1999, 2003) và mô hình kết hợp của Dwyer & Kim (2003). Luận án chứng minh tính thích dụng của mô hình Dwyer & Kim đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam nhờ tính bao quát phía cầu và sự liên kết giữa chỉ số năng lực cạnh tranh điểm đến với mức độ thịnh vượng kinh tế - xã hội. Chương này cũng phân tích 14 nhân tố ảnh hưởng tới NLCT điểm đến theo nghiên cứu của Metin Kozak (2004) và giới thiệu chi tiết hệ thống chỉ số đánh giá của Dwyer & Kim cùng hệ thống 13 bộ chỉ số của WEF.

Chương 2: Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của một số quốc gia

Chương 2 phân tích bài học thực tiễn từ ba quốc gia: Malaysia, Thái Lan và Thụy Sĩ.

Tại Malaysia, quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về lượng khách quốc tế, các chính sách then chốt được ghi nhận gồm:

  • Thể chế hóa quản lý du lịch: Năm 1990 thành lập Bộ Văn hóa và Du lịch (sau là MOCAT); năm 1992 thành lập Cục Xúc tiến Du lịch Malaysia (MTB).
  • Đầu tư tài chính và chiến dịch tiếp thị: Ngân sách xúc tiến hàng năm đạt hàng chục đến hàng trăm triệu USD; triển khai thành công các chiến dịch quy mô lớn như "Năm Du lịch Malaysia 1990" (thu hút 7,45 triệu lượt khách, thu 2,5 tỷ USD), "Năm Du lịch Malaysia 2007" nhân 50 năm quốc khánh (thu hút 20,97 triệu lượt khách quốc tế, vượt chỉ tiêu 20,1 triệu, mang lại doanh thu 15 tỷ USD). Định vị thương hiệu toàn cầu với khẩu hiệu "Malaysia - Truly Asia" và chiến dịch xúc tiến tiếp nối năm 2008 tại các thị trường trọng điểm, trong đó có chiến dịch "Khám phá Malaysia" tại Việt Nam.
  • Chính sách thị thực và tạo thuận lợi thương mại: Miễn thị thực đơn phương cho công dân khoảng 40 quốc gia; phối hợp thủ tục xuất nhập cảnh một cửa với Singapore; tổ chức lễ hội mua sắm "Mega Sale Carnival" vào mùa hè liên tục từ năm 1999 với chính sách miễn thuế cho nhiều nhóm hàng hóa.
  • Phát triển hạ tầng và đa dạng hóa sản phẩm: Xây dựng hệ thống 5 sân bay quốc tế, hệ thống đường cao tốc Bắc - Nam dài 860 km nối Singapore và Thái Lan; đầu tư các công trình biểu tượng như Tháp đôi Petronas, trường đua F1 Sepang phục vụ du lịch thể thao, du lịch MICE và du lịch chăm sóc sức khỏe.
Chỉ tiêu phát triển du lịch Malaysia (Giai đoạn 2000–2009) Thái Lan (Giai đoạn 2000–2008) Thụy Sĩ (Giai đoạn 2000–2008)
Xu hướng lượng khách quốc tế Tăng trưởng liên tục, đạt 20,97 triệu lượt (2007) và duy trì vị thế dẫn đầu ASEAN Tăng trưởng ổn định, chịu biến động cục bộ do khủng hoảng chính trị Đạt mức ổn định cao, dẫn đầu thế giới về chỉ số cạnh tranh du lịch của WEF
Trọng tâm chiến lược điểm đến Đẩy mạnh tiếp thị thương hiệu quốc gia ("Malaysia Truly Asia"), du lịch mua sắm, thể thao và MICE Đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, văn hóa hiếu khách, phục hồi khủng hoảng nhanh Quản trị chất lượng tiêu chuẩn cao, hạ tầng giao thông đường sắt/hàng không đồng bộ, bảo vệ môi trường bền vững
Chính sách quản lý xuất nhập cảnh Miễn thị thực đơn phương rộng rãi (~40 nước), đơn giản hóa thủ tục cửa khẩu Cấp thị thực tại cửa khẩu thuận tiện, chính sách hỗ trợ khách lữ hành linh hoạt Nằm trong khối Schengen, hạ tầng tiếp cận giao thông vượt trội

Từ kinh nghiệm của ba quốc gia, luận án đúc kết 7 bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:

  1. Xác định đúng vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế, hoạch định chính sách và chiến lược cạnh tranh dài hạn.
  2. Xây dựng và thực hiện chiến lược tiếp thị điểm đến chuyên nghiệp, triển khai các chiến dịch quảng bá thương hiệu quốc gia bài bản.
  3. Tập trung phát triển sản phẩm và dịch vụ du lịch có tính cạnh tranh, đa dạng và mang bản sắc riêng.
  4. Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và hạ tầng dịch vụ đồng bộ.
  5. Tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, xuất nhập cảnh, bảo đảm an ninh và an toàn cho khách du lịch.
  6. Coi trọng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch theo chuẩn quốc tế.
  7. Coi trọng bảo vệ tài nguyên môi trường và quản lý điểm đến hướng tới phát triển bền vững.

Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến của Du lịch Việt Nam

Chương 3 trình bày bức tranh toàn cảnh về thực trạng NLCT của Du lịch Việt Nam thông qua việc phân tích dữ liệu thứ cấp và dữ liệu điều tra thực nghiệm:

  • Tổng quan các nguồn lực: Nguồn lực tự nhiên và văn hóa phong phú (bờ biển dài trên 3.260 km, các di sản thế giới được UNESCO công nhận), tuy nhiên công tác khai thác còn phân tán. Hệ thống cơ sở lưu trú tăng nhanh (năm 2009 cả nước có hệ thống khách sạn từ đạt chuẩn đến 5 sao phát triển mạnh so với giai đoạn 1990), nhưng hạ tầng du lịch tổng thể và mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt còn thiếu đồng bộ.
  • Đánh giá thông qua bảng xếp hạng của WEF: Phân tích kết quả Báo cáo NLCT Du lịch và Lữ hành các năm 2008–2009 cho thấy Việt Nam xếp ở nhóm nửa sau của bảng xếp hạng toàn cầu. Điểm mạnh của Việt Nam nằm ở nguồn lực tự nhiên, tài nguyên văn hóa và mức độ cạnh tranh về giá (chỉ số giá rẻ, thuế VAT du lịch cạnh tranh so với khu vực). Tuy nhiên, các chỉ số bị xếp hạng rất thấp gồm: kết cấu hạ tầng giao thông hàng không và đường bộ, mức độ sẵn sàng về công nghệ thông tin, tính bền vững của môi trường, vệ sinh y tế và khung pháp lý hỗ trợ du lịch.
Nhóm yếu tố cạnh tranh Đánh giá từ đại diện phía cung (Doanh nghiệp trong nước) Đánh giá từ đại diện phía cầu (Doanh nghiệp quốc tế)
Nguồn lực tự nhiên và văn hóa Đánh giá ở mức điểm cao; phong cảnh thiên nhiên, ẩm thực và di sản văn hóa là lợi thế cốt lõi Đánh giá rất cao về tính hấp dẫn nguyên sơ, ẩm thực phong phú và giá trị lịch sử
Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ Nhận định giao thông nội địa, sân bay và bưu chính viễn thông còn hạn chế Đánh giá thấp sự kết nối giao thông, chất lượng dịch vụ vận chuyển và vệ sinh môi trường
Quản lý điểm đến và tiếp thị Thừa nhận công tác tiếp thị xúc tiến quốc gia còn yếu, kinh phí thấp, thiếu chiến dịch dài hạn Cho rằng thông tin du lịch thiếu nhất quán, xúc tiến ở nước ngoài kém hiệu quả, thủ tục visa chưa linh hoạt
Mức độ thỏa mãn và giá cả Đánh giá mức giá có tính cạnh tranh cao nhưng giá trị gia tăng và chi tiêu của khách còn thấp Cho rằng chuyến đi đáng tiền (value for money) về chi phí cơ bản nhưng dịch vụ gia tăng nghèo nàn

Tổng hợp phân tích SWOT về NLCT điểm đến của Du lịch Việt Nam:

  • Điểm mạnh (S): Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn đa dạng; tình hình an ninh chính trị ổn định; chi phí dịch vụ cạnh tranh; người dân thân thiện, hiếu khách.
  • Điểm yếu (W): Kết cấu hạ tầng giao thông và hạ tầng du lịch yếu kém; công tác quản lý và xúc tiến điểm đến thiếu chuyên nghiệp; sản phẩm du lịch đơn điệu, thiếu tính khác biệt; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu; vệ sinh môi trường điểm đến còn nhiều bất cập; thủ tục xuất nhập cảnh còn rào cản.
  • Cơ hội (O): Xu hướng gia tăng dòng khách du lịch quốc tế tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương; tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng; sự quan tâm của Nhà nước đối với phát triển du lịch; ứng dụng công nghệ thông tin mở rộng kênh tiếp cận thị trường.
  • Thách thức (T): Cạnh tranh quyết liệt từ các điểm đến trong khu vực (Thái Lan, Malaysia, Singapore, Trung Quốc); nguy cơ suy thoái tài nguyên môi trường do phát triển nóng; biến động kinh tế toàn cầu và dịch bệnh; nguy cơ mất bản sắc văn hóa truyền thống.

Chương 4: Quan điểm và một số khuyến nghị về chính sách và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của Du lịch Việt Nam

Chương 4 xác lập 4 quan điểm định hướng:

  1. Du lịch phải trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu, đóng góp quan trọng vào sự thịnh vượng quốc gia.
  2. Môi trường thể chế và chính sách phải tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển.
  3. Du lịch phải được phát triển theo hướng năng động, thích ứng nhanh và ứng phó kịp thời với những biến động của thị trường quốc tế.
  4. Phát triển du lịch phải gắn liền với yêu cầu chất lượng, hiệu quả kinh tế và tính bền vững về môi trường - xã hội.

Trên cơ sở các quan điểm trên, luận án đề xuất 7 nhóm khuyến nghị chính sách và giải pháp cụ thể:

  1. Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách và mô hình tổ chức quản lý: Xác định đúng vị trí ngành du lịch; kiện toàn cơ quan quản lý du lịch quốc gia; hoàn thiện Luật Du lịch và các quy định liên quan; tăng cường quản lý nhà nước đối với điểm đến.
  2. Đẩy mạnh nghiên cứu thị trường và tiếp thị điểm đến: Thành lập cơ quan xúc tiến du lịch chuyên trách; nâng cao ngân sách xúc tiến từ nhà nước và huy động nguồn lực xã hội hóa; xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia nhất quán; thành lập văn phòng đại diện du lịch Việt Nam tại các thị trường trọng điểm quốc tế.
  3. Phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng, đa dạng và có giá trị gia tăng cao: Ưu tiên phát triển du lịch biển đảo, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa - di sản; mở rộng sản phẩm du lịch MICE và du lịch mua sắm.
  4. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): Phát triển cổng thông tin du lịch quốc gia; ứng dụng thương mại điện tử trong kinh doanh lữ hành và khách sạn; hiện đại hóa hệ thống chỉ dẫn du lịch điện tử.
  5. Bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững: Thiết lập quy chuẩn bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch; kiểm soát sức chứa của điểm đến; bảo tồn tài nguyên sinh thái và các giá trị di sản văn hóa phi vật thể.
  6. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp: Xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch quốc gia tương thích với tiêu chuẩn ASEAN; đổi mới chương trình đào tạo đại học, cao đẳng nghề du lịch; đào tạo lại đội ngũ lao động trực tiếp và bồi dưỡng văn hóa giao tiếp du lịch cho cộng đồng dân cư.
  7. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và chủ động hội nhập: Tăng cường hợp tác trong khuôn khổ ASEAN, APEC, GMS (Tiểu vùng Mê Kông mở rộng); cải cách thủ tục cấp thị thực xuất nhập cảnh theo hướng miễn thị thực cho các thị trường trọng điểm, mở rộng cấp thị thực tại cửa khẩu và phát triển thị thực điện tử.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và học thuật

  • Luận án hệ thống hóa có chọn lọc lý luận về cạnh tranh kinh tế từ các trường phái cổ điển, Mác-xít đến hiện đại; làm rõ nội hàm khái niệm NLCT điểm đến ở cấp độ toàn bộ lãnh thổ quốc gia.
  • Đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về NLCT điểm đến du lịch, nhấn mạnh ba trụ cột: hiệu quả cạnh tranh thị trường, mức độ thỏa mãn trải nghiệm của du khách và sự thịnh vượng bền vững cho cộng đồng bản địa.
  • So sánh, phân tích cấu trúc của hai mô hình lý thuyết tiêu biểu (Crouch & Ritchie và Dwyer & Kim), chứng minh tính phù hợp và đưa mô hình kết hợp Dwyer & Kim vào nghiên cứu thực chứng tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Lần đầu tiên vận dụng phương pháp điều tra trực tuyến qua mạng thông qua công cụ Survey Monkey để khảo sát đồng thời hai nhóm chủ thể: đại diện phía cung (doanh nghiệp du lịch nội địa) và đại diện phía cầu (doanh nghiệp lữ hành quốc tế).
  • Kết hợp kết quả điều tra thực nghiệm với bộ chỉ số xếp hạng của WEF và mô hình SWOT để chỉ rõ căn nguyên khiến Du lịch Việt Nam xếp thứ hạng thấp hơn so với các đối thủ trong khu vực ASEAN giai đoạn 2007–2009.
  • Đúc kết 7 bài học thực tiễn từ Malaysia, Thái Lan và Thụy Sĩ; đề xuất hệ thống 4 quan điểm và 7 nhóm giải pháp mang tính khả thi cho việc xây dựng Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2011–2015, định hướng đến năm 2020.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án phản ánh một số giới hạn nghiên cứu:

  • Giới hạn phạm vi cấp độ điểm đến: Luận án tiếp cận điểm đến ở quy mô toàn bộ quốc gia, chưa đi sâu phân tích NLCT của từng vùng du lịch, từng địa phương hoặc từng phân khúc sản phẩm đặc thù.
  • Khảo sát thực nghiệm phía cầu: Mẫu khảo sát phía cầu thực hiện trên đối tượng là các tổ chức và doanh nghiệp du lịch gửi khách quốc tế qua mạng internet; luận án chưa thể thực hiện điều tra phỏng vấn trực tiếp trên diện rộng đối với từng du khách quốc tế cá nhân tại các cửa khẩu quốc tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng khung phân tích sang các cấp độ điểm đến địa phương (tỉnh, thành phố, khu du lịch trọng điểm); nghiên cứu bổ sung các mô hình định lượng phân tích tác động hồi quy giữa từng yếu tố thành phần của NLCT điểm đến đối với sự gia tăng chi tiêu và tỷ lệ quay lại của khách du lịch quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch): Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế quản lý điểm đến, điều chỉnh chính sách xúc tiến thương hiệu quốc gia và cải cách thủ tục thị thực.
  • Đối với các nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế, Quản lý kinh tế và Du lịch: Tài liệu tham khảo về phương pháp luận ứng dụng mô hình Dwyer & Kim, cách thức khai thác bảng chỉ số WEF và quy trình triển khai khảo sát trực tuyến.
  • Đối với các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành và khách sạn: Cung cấp góc nhìn thực chứng từ phía cầu quốc tế để định vị lại sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và xác định thị trường mục tiêu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn mô hình lý thuyết nào làm khung phân tích chính và vì sao?
Luận án lựa chọn mô hình kết hợp của Dwyer & Kim (2003). Tác giả lựa chọn mô hình này vì nó khắc phục được hạn chế của mô hình Crouch & Ritchie (mô hình Crouch & Ritchie không phản ánh rõ nét phía cầu), phân định rành mạch hạ tầng du lịch chuyên ngành với hạ tầng kinh tế chung, đồng thời tích hợp trực tiếp chỉ số NLCT điểm đến với mục tiêu thịnh vượng kinh tế - xã hội của quốc gia.

2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp trong luận án có điểm gì mới tại thời điểm năm 2010?
Tác giả là người đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng nền tảng trực tuyến Survey Monkey để thiết kế và phân phối phiếu điều tra chuyên gia, khảo sát ý kiến đồng thời từ đại diện phía cung (các doanh nghiệp du lịch trong nước) và đại diện phía cầu (các hãng lữ hành quốc tế có gửi khách tới Việt Nam), dữ liệu được phần mềm tổng hợp và xử lý tự động theo thang đo 5 bậc.

3. Vì sao luận án chọn nghiên cứu kinh nghiệm của ba nước Malaysia, Thái Lan và Thụy Sĩ?
Malaysia và Thái Lan được chọn vì đây là hai đối thủ cạnh tranh trực tiếp, có điều kiện tự nhiên, tài nguyên và văn hóa tương đồng với Việt Nam nhưng thu hút lượng khách quốc tế vượt trội trong khu vực Đông Nam Á. Thụy Sĩ được lựa chọn vì quốc gia này liên tục ba năm (2007–2009) giữ vị trí số 1 thế giới về chỉ số cạnh tranh du lịch theo xếp hạng của WEF, cung cấp bài học dài hạn về quản trị chất lượng, hạ tầng đồng bộ và phát triển bền vững.

4. Yếu tố nào của Du lịch Việt Nam được xếp hạng cạnh tranh cao và yếu tố nào xếp hạng thấp nhất theo báo cáo của WEF giai đoạn 2008–2009?
Theo bảng xếp hạng của WEF trong luận án, Việt Nam có lợi thế cao về nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hóa và mức độ cạnh tranh về giá (chi phí dịch vụ rẻ). Ngược lại, các yếu tố bị đánh giá thấp nhất là hạ tầng giao thông (đường không, đường bộ), mức độ sẵn sàng công nghệ thông tin, tính bền vững của môi trường và các quy định pháp lý tạo thuận lợi cho ngành du lịch.

5. Luận án đề xuất mấy quan điểm và bao nhiêu nhóm khuyến nghị giải pháp?
Luận án đề xuất 4 quan điểm định hướng phát triển và 7 nhóm khuyến nghị về chính sách, giải pháp nhằm nâng cao NLCT điểm đến của Du lịch Việt Nam cho giai đoạn 2011–2015, định hướng đến năm 2020.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Anh Tuấn là công trình khoa học chuyên ngành kinh tế chính trị nghiên cứu có hệ thống về năng lực cạnh tranh điểm đến của Du lịch Việt Nam ở cấp độ quốc gia. Bằng việc kết hợp mô hình lý thuyết Dwyer & Kim, chỉ số xếp hạng của WEF và phương pháp khảo sát thực nghiệm qua Survey Monkey, công trình đã làm rõ vị thế cạnh tranh thực tế của du lịch Việt Nam trong tương quan với các đối thủ khu vực Đông Nam Á. Hệ thống 4 quan điểm và 7 nhóm giải pháp do luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học có giá trị cho công tác hoạch định chính sách và nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch quốc gia giai đoạn 2011–2020.