CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN 1. C Ạ N H TR A N H V À N Ă N G LỰ C C Ạ N H TR A N H 1. Khái niệm cơ bản và một số quan điểm về cạnh tranh Động từ “cạnh tranh” có gốc La tinh là “competere”, nghĩa là “cùng mưu cầu” hoặc “tranh giành nhau”. Cạnh tranh được xem là hiện tượng thông thường trong tự nhiên và xã hội, là điều kiện cho quá trình chọn lọc và tiến hoá, bởi lẽ thông qua cạnh tranh, các cá thể mạnh sẽ tồn tại và phát triển, những cá thể yếu sẽ bị tiêu diệt.
Cạnh tranh có thể hiểu là “sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” [5, tr 2]. Trong cuốn Cạnh tranh kinh tế của tác giả Trần Văn Tùng đã phân tích các quan điểm cơ bản về cạnh tranh của một số trường phái kinh tế. Dưới đây sẽ khái quát một số quan điểm đã có ảnh hưởng nhất định và đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của lý luận cạnh tranh [33]. Người đặt nền móng đầu tiên cho lý luận cạnh tranh là các nhà triết học khai sáng.
Theo trường phái này, để thúc đẩy phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) cần phải có tổ chức xã hội kiểu mới mang tính đa dạng của các cá thể xã hội được tự do và cần có nền chính trị dân chủ. Tự do cá nhân là tiền đề không thể thiếu được của KTTT. Vì thế, để mở đường cho KTTT, trước hết phải thu hẹp quyền lực của nhà nước phong kiến, đồng thời nới rộng không gian tự do, khuyến khích công dân tìm kiếm lợi ích cá nhân nếu hành vi đó không gây hại cho người khác. Các nhà khai sáng chính là những người đầu tiên tạo dựng tiền đề tư tưởng và cơ sở phương pháp luận cho chủ nghĩa tự do kinh tế xuất hiện sau này.
Ảnh hưởng lớn tới lý luận cạnh tranh là thuyết vị lợi với học giả tiêu biểu là Bentham xuất hiện ở các nước châu Âu cuối thế kỷ XVIII. Thuyết vị lợi cho rằng, 18 z lợi ích dẫn đến các hành vi của cá nhân, là tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hành vi đạo đức của cá nhân. Từ quan điểm này, các nhà kinh tế đi theo khuynh hướng tự do sau này đã bổ sung phát triển thành hệ thống lý thuyết về lợi ích cá nhân với tư cách là động lực chính của kinh tế thị trường. Adam Smith, học giả chính của Trường phái Tư sản cổ điển lấy chủ nghĩa cá nhân làm cơ sở để sáng lập ra hệ thống lý luận kinh tế học theo chủ nghĩa tự do.
Ông chủ trương tự do cạnh tranh. Trong tác phẩm nổi tiếng “Nguồn gốc sự giàu có của các dân tộc”, ông đã có công đầu đưa ra lý luận cạnh tranh có hệ thống. Ông cho rằng, khi một dân tộc bắt tay vào xây dựng KTTT, việc trước tiên là phải xóa bỏ những nhân tố cản trở tự do cạnh tranh. Theo Ông, cạnh tranh là động lực khơi dậy những nỗ lực chủ quan của con người, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy gia tăng của cải quốc dân và có thể giúp cân bằng cung cầu trong xã hội.
John Stuart Mill đã bổ sung lý luận cạnh tranh của A. Theo Ông, cạnh tranh không phải là yếu tố kích thích dựa vào mong muốn, nhưng trong thời đại Ông đang sống, cạnh tranh là cần thiết. Ông đề cao tự do cá nhân nhưng lại cho rằng xã hội có quyền sử dụng vũ lực để ngăn ngừa cá nhân gây ra hậu quả xấu. Quan điểm này có nhiều mâu thuẫn, một mặt khuyến khích mọi người theo đuổi tự do cá nhân, mặt khác lại yêu cầu xã hội can thiệp để bảo vệ chính nghĩa, đạo đức xã hội [33, tr.
Các Mác cũng nghiên cứu về cạnh tranh (thể hiện trong học thuyết giá trị thặng dư nằm trong tác phẩm “Tư bản” đồ sộ của Ông) nhưng không có lý luận cạnh tranh riêng. Theo Mác, sự ra đời và tồn tại của cạnh tranh dựa vào hai điều kiện cơ bản: phân công xã hội và tính chất tư nhân của sản xuất [33, tr. Mác cho rằng “Sự phân công lao động trong xã hội đặt những người sản xuất hàng hoá độc lập đối diện với nhau, những người này không thừa nhận một uy lực nào khác ngoài uy lực cạnh tranh” [17, 517]. Quan điểm nổi bật của C.
Mác là về cạnh tranh giữa những người sản xuất và ảnh hưởng của nó tới người tiêu dùng. Cạnh tranh d i ễ n r a ở b a b ì nh d i ện : c ạ n h tr a n h g i á t hàn h q u a n ân g c a o n ă ng s u ấ t la o đ ộ n g g i ữ a c á c n h à tư b ản để t h u l ợ i n h u ậ n s i êu ng ạ c h ; c ạ n h t r an h ch ấ t l ư ợ n g q u a n â n g 19 z cao giá trị sử dụng hàng hoá; cạnh tranh giữa các ngành qua khả năng luân chuyển tư bản để từ đó các nhà tư bản chia nhau giá trị thặng dư [33, tr. Theo lý luận kinh tế học Tân cổ điển, trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, sản xuất do thị hiếu người tiêu dùng điều khiển thông qua cơ chế thị trường, không có độc quyền, không có cọ sát, tự điều chỉnh để cân đối, những người tham gia thị trường đều có đủ thông tin như nhau. Muốn đạt lợi nhuận tối đa, doanh nghiệp phải bố trí sản xuất theo nguyên tắc giá thành cận biên ngang bằng với lợi ích cận biên.
Tuy nhiên, mô hình cạnh tranh hoàn hảo còn hạn chế về phương pháp phân tích, không làm rõ được yếu tố nào nảy sinh và khả năng mở rộng sức chi phối thị trường của các yếu tố đó [33, tr. Dựa trên cơ sở kinh tế học vi mô, trường phái Harvard đã phân tích cụ thể quan hệ cạnh tranh giữa các công ty trong ngành với các tổ chức độc quyền nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa cạnh tranh và năng suất. Muốn phân phối tài nguyên tối ưu phải khuyến khích cạnh tranh để tăng sức ép buộc các doanh nghiệp tăng cường đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất. Tuy nhiên, lý luận cạnh tranh của trường phái này có nhược điểm như chưa thoát khỏi quan điểm của Tân cổ điển, lấy tối đa hoá lợi nhuận làm mục tiêu, phương pháp phân tích một chiều và tĩnh, người tiêu dùng đều có đầy đủ thông tin, do đó thị trường ở trạng thái cân bằng.
Lý luận này còn nhược điểm nữa là khó thực hiện chức năng phân phối tài nguyên ở cấp vĩ mô hợp lý, chưa đi sâu nghiên cứu những giải pháp của Chính phủ can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp [33, tr. Học giả nổi tiếng thuộc trường phái Áo, Schumpeter, đã giải thích khá tốt về cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức. Ông chủ trương giảm bớt độc quyền bằng các chính sách điều tiết của nhà nước và cho rằng, độc quyền không xoá bỏ cạnh tranh, chỉ làm thay đổi phương thức cạnh tranh. Sự ra đời của tổ chức độc quyền làm cho cạnh tranh chuyển sang trạng thái động, đi vào chiều sâu.
Những doanh nghiệp thuộc loại cạnh tranh hoàn hảo có năng suất kém, bất lợi trong tạo ra sản phẩm mới sẽ dễ bị đổ vỡ hơn doanh nghiệp lớn [33, tr. 20 z Cùng với quá trình toàn cầu hoá kinh tế, các quan điểm cạnh tranh đã thay đổi dựa trên ba tiền đề cơ bản: một là, thế giới đang chuyển từ nền kinh tế công n g h i ệ p s an g n ề n k i nh tế t r i t hứ c v à t oà n c ầ u h o á k i n h t ế đò i h ỏ i p hả i t ì m h i ể u c á c q u y đ ị n h v à l u ậ t c h ơi v ề c ạ n h t r a n h t r o ng n ền k i n h tế t r i t h ứ c ; H ai l à , x é t t ừ g ó c nhìn thương mại quốc tế, cạnh tranh dựa vào lợi thế so sánh trước đây đã chu yển sang cạnh tranh dựa vào quy chế; Ba là, tính tất yếu của hợp tác kinh tế để đổi mới quan điểm từ cạnh tranh đối kháng sang cạnh tranh có tính hợp tác [33, tr. Từ các quan điểm cạnh tranh trên, phạm trù cạnh tranh được hiểu: “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích.
Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi” [4, tr. Phân loại cạnh tranh Trên thực tế, có rất nhiều cách phân loại cạnh tranh. Dựa trên các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh có thể được phân thành nhiều loại khác nhau. Dưới đây là một số loại cạnh tranh phổ biến các nhà nghiên cứu cạnh tranh đã vạch ra: - Xét theo chủ thể kinh tế tham gia thị trường có cạnh tranh giữa những người sản xuất hay người bán với nhau, cạnh tranh giữa những người mua, giữa người bán và người mua.
Ở đây, cạnh tranh được thực hiện xoay quanh chất lượng, giá cả hàng hoá và điều kiện dịch vụ. - Xét theo hình thái cạnh tranh có hai loại: Cạnh tranh hoàn hảo là tình trạng cạnh tranh trong đó giá cả của một loại hàng hoá không thay đổi trong toàn bộ địa danh của thị trường, bởi vì người mua, người bán đều biết tường tận về các điều kiện của thị trường ; Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối được giá cả 21 z sản phẩm của mình trên thị trường. Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: độc quyền nhóm và cạnh tranh độc quyền. - Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể tham gia thị trường: có cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.