chương I, du lịch được hiểu là “các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Còn theo Nguyễn Văn Đính và Trần Minh Hòa (2006), “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất,trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”. Tóm lại trong nghiên cứu này du lịch được hiểu là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người từ nơi đang sinh sống đến một nơi khác với mục đích tham quan, giải trí, nghỉ ngơi và tìm hiểu về nơi đó trong một khoảng thời gian nhất định.2 Khách du lịch Tương tư như du lịch, định nghĩa về khách du lịch cũng rất đa dạng và không có sự thống nhất trong các nghiên cứu.
Nếu như Smith (1978) cho rằng “khách du lịch là một người tạm thời được an nhàn, tự nguyện đến thăm một nơi xa nhà với mục đích trải nghiệm một sự thay đổi” thì Pearce (1985) đã xác định khách du lịch là thuật ngữ được xác định rõ ràng nhất về mặt trải nghiệm và có liên quan rõ ràng nhất với các hành vi bao gồm chụp ảnh, mua quà lưu niệm, đi đến những địa điểm nổi tiếng, ở một thời gian ngắn ở một nơi và không hiểu về người dân địa phương. 8 Thuật ngữ khách du lịch cũng thường được sử dụng trong quá trình trò chuyện và tương tác hàng ngày (McCabe & Foster, 2006) như là một loại cư dân (McCabe, 2005) và được xác định với mức tiêu dùng của các loại địa điểm cụ thể (McCabe & Stokoe, 2004). Để phục vụ cho công tác thống kê du lịch được thống nhất, năm 1963 Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra một khái niệm thống nhất và chính thức về khách du lịch. Theo đó, “khách du lịch là người viếng thăm và lưu lại một hoặc một số nơi ngoài môi trường cư trú thường xuyên của mình, với thời gian không quá một năm liên tục nhằm mục đích giải trí, kinh doanh và các mục đích khác không liên quan đến mục đích hành nghề để nhận thu nhập ở nơi viếng thăm” (UNWTO, 1963).
Trong khi một định nghĩa rộng như vậy có thể khá thỏa đáng đối với kinh tế hoặc hoạt động kinh doanh, nó không phân biệt được giữa du lịch giải trí và du lịch liên quan đến công việc Yiannakis & Gibson (1992). Tại Việt Nam theo khoản 1, điều 4, Luật Du lịch Việt Nam: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến". Như vậy khách du lịch là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình để đến một nơi khác trong thời gian ít hơn 12 tháng liên tục với mục đích chính của chuyến đi là thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài việc tiến hành các hoạt động để đem lại thu nhập và kiếm sống ở nơi đến. Khái niệm khách du lịch này được áp dụng cho cả khách du lịch quốc tế và khách du lịch trong nước và áp dụng cho cả khách đi du lịch trong ngày và đi du lịch dài ngày có nghỉ qua đêm.
Trong luận văn này “khách du lịch” được hiểu theo nghĩa là những người đi từ nơi mình sinh sống thường xuyên đến một nơi khác trong thời gian ít hơn 12 tháng với mục đích là tham quan, nghỉ dưỡng và giải trí…. Khách du lịch quốc tế Theo UNWTO (1963), “khách du lịch quốc tế là người viếng thăm và lưu lại một hoặc một số nước khác ngoài nước cư trú của mình, với thời gian ít nhất là 24 giờ, ngoài mục đích hành nghề để nhận thu nhập”. Như vậy, khách du lịch quốc tế gắn với sự viếng thăm hoặc lưu lại một quốc gia ngoài quốc gia mình thường cư trú. 9 Đến năm 1968, Ủy ban Thống kê của Liên Hợp Quốc cũng đã thừa nhận định nghĩa này.
Đến năm 1993, tổ chức này cũng phân loại khách du lịch thành hai nhóm là khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist) và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist). Trong đó, khách du lịch quốc tế đến chỉ những khách từ nước ngoài đến du lịch ở một quốc gia khác quốc gia mình đang thường xuyên cư trú. Tại Việt Nam, theo khoản 3, điều 34, Luật Du lịch Việt Nam định nghĩa “Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”. Đây cũng là khái niệm về khách du lịch quốc tế được sử dụng trong nghiên cứu này.
Các loại hình du lịch Cùng với sự phát triển và thay đổi trong nhu cầu du lịch trên thế giới, ngày càng có nhiều loại hình du lịch mới ra đời làm đa dạng và phong phú thêm cho hoạt động du lịch. Có nhiều cách khác nhau để phân chia các loại hình du lịch chẳng hạn như căn cứ vào động cơ du lịch, lãnh thổ, phương tiện đi lại… 1. Căn cứ theo động cơ du lịch Du lịch giải trí: Du lịch giải trí còn được gọi là du lịch vui chơi hay du lịch nghỉ dưỡng. Đây là loại hình du lịch khi một người đi nghỉ và không kết hợp đi công tác, mục đích là giải trí (Smith & Godbey, 1991).
Một trong những chức năng quan trọng của loại hình du lịch này là phục hồi sức khỏe, tinh thần của con người sau những ngày làm việc, lao động căng thẳng. Du lịch văn hóa: Theo UNWTO (2017), du lịch văn hóa là một loại hình hoạt động du lịch trong đó động cơ cốt yếu của du khách là tìm hiểu, phân tích, trải nghiệm và tiêu dùng các điểm tham quan/ sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể tại một địa điểm du lịch. Theo Luật Du lịch năm 2005, “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa trên bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống”. Như vậy, có thể hiểu du lịch văn hóa phát triển dựa trên tài nguyên văn hóa, bản sắc dân tộc đã được tạo ra trong quá trình hình thành và phát triển của các quốc gia.
10 Du lịch sinh thái: Theo định nghĩa của Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (2005) “Du lịch sinh thái (Ecotourism) là du lịch có trách nhiệm đối với các khu vực tự nhiên nhằm bảo tồn môi trường, duy trì cuộc sống của người dân địa phương đồng thời liên quan đến việc diễn giải, giáo dục thúc đẩy nhận thức về giá trị tự nhiên, môi trường và văn hóa địa phương.” Tại Việt Nam, du lịch sinh thái bắt đầu được quan tâm nghiên cứu vào giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Khái niệm về du lịch sinh thái cũng được đưa ra trong giai đoạn này và được thông qua trong Hội thảo về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” vào năm 1999. Theo đó “du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Ngoài những hình thức du lịch phổ biến trên, xét theo động cơ du lịch còn có một số loại hình khác như du lịch mạo hiểm, team building, chữa bệnh, thăm thân, thể thao,… Mỗi loại hình du lịch đều có đặc điểm khác nhau song đã góp phần làm đa dạng hóa du lịch của các quốc gia trên thế giới hiện nay.
Căn cứ theo lãnh thổ Căn cứ vào lãnh thổ có thể chia du lịch thành hai loại hình chính là du lịch nội địa và du lịch quốc tế. Trong đó du lịch quốc tế gồm hai dạng du lịch quốc tế chủ động và du lịch quốc tế bị động. Du lịch quốc tế chủ động: Là hình thức du lịch của những người từ nước ngoài đến một quốc gia nào đó và tiêu ngoại tệ ở đó. Du lịch quốc tế bị động: là hình thức du lịch của công dân một quốc gia nào đó và của những người nước ngoài đang cư trú trên lãnh thổ của quốc gia đó đi ra nước khác du lịch và trong chuyến đi ấy họ đã tiêu tiền kiếm ra tại đất nước đang cư trú.
Du lịch nội địa bao gồm các hoạt động của một du khách cư trú trong quốc gia được tham chiếu (như một phần của chuyến đi du lịch trong nước hoặc một phần của chuyến du lịch ra nước ngoài) (UNWTO, 2015). Căn cứ vào phương tiện đi lại Giao thông vận tải trong du lịch thường được coi là một phần của hệ thống du lịch trong phụ trách đưa khách du lịch đến các điểm đến, một phương tiện di chuyển xung quanh địa điểm và rời khỏi nó khi thời gian của chuyến đi kết thúc. Page và Lumsdon (2004) cho rằng hệ thống giao thông của một địa điểm du lịch có tác động đến trải nghiệm du lịch giải thích cách mọi người đi du lịch và tại sao họ chọn các hình thức khác nhau của kỳ nghỉ, điểm đến và vận chuyển. Theo phương tiện đi lại, du lịch được chia thành các loại hình như du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng xe máy, du lịch bằng ô tô, du lịch bằng máy bay, du lịch bằng tàu thủy, du lịch bằng tàu hỏa… 1.
Căn cứ vào hình thức tổ chức Theo các hình thức tổ chức của du lịch, có thể phân biệt du lịch theo tour trọn gói là du lịch trọn gói và du lịch cá nhân. Tour du lịch trọn gói là một tổ hợp các dịch vụ du lịch tiêu chuẩn. Một tour du lịch cá nhân được tổ chức bởi chính khách du lịch. Những chuyến du lịch này cũng được đặt tên là “đơn lẻ” nhưng không có nghĩa là bạn sẽ tự mình đi du lịch.
Đó có thể là một chuyến du lịch gia đình hoặc đi du lịch theo nhóm. Khái niệm “du lịch cá nhân” thường trái ngược với khái niệm “du lịch đại chúng”. Du lịch đại chúng ban đầu được dự định là có nhiều người tham gia. Theo thời gian, thuật ngữ này đã mang ý nghĩa tiêu cực.