chương I thì du lịch được hiểu như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Quảng bá du lịch 15 Quảng bá du lịch là thực hiện công tác giới thiệu rộng rãi khắp tất cả mọi nơi để mọi người đều biết. Công tác quảng bá du lịch là hoạt động cung cấp, truyền đạt thông tin tới du khách, giúp họ biết đến các điểm du lịch, sản phẩm dịch vụ du lịch và lên kế hoạch tham gia các chương trình du lịch trong hành trinh tìm hiểu khám phá những điều khác lạ. Quảng bá du lịch là đưa thông tin về sản phẩm du lịch đến những người khách tiềm năng, kế đến là khéo léo “định hình” nhãn hiệu của mình.
Sau đó làm cho nhãn hiệu ấy leo lên bậc cao nhất là trong trong thang chọn lựa của khách [29, tr. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về quảng bá phát triển du lịch Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách về phát triển du lịch, thể hiện qua các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc Chỉ thị 46-CT/TW ngày 14/10/1994 của Ban Bí thư Trung ương Thông báo 179-TB/TW, ngày 11/11/1998 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 45-NQ/CP, ngày 22/6/1993 của Chính phủ về đổi mới, quản lý và phát triển ngành du lịch. Qua đó, ngành du lịch được nhận thức đúng hơn với vai trò là ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Năm 1999, Pháp lệnh du lịch ra đời và năm 2005, Luật Du lịch đã đi vào cuộc sống rồi đến Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, điều đó đã tạo rất nhiều thuận lợi cho ngành du lịch phát triển tương xứng với tiềm năng mà nước ta có được.
Để đánh thức tiềm năng và đưa du lịch Việt Nam xứng tầm với thế giới, ngày 16 tháng 01 năm 2017, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “Về phát triển du lịch trở thành kinh tế mũi nhọn”. Tinh thần của Nghị quyết là phấn đấu đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thu hút 17-20 triệu lượt khách du lịch quốc tế, 82 triệu lượt khách nội địa, đóng góp trên 10% GDP; tổng thu từ khách du lịch đạt 35 tỷ USD. Phấn đấu đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các ngành, 16 lĩnh vực khác. Việt Nam thuộc nhóm các nước có ngành Du lịch phát triển hàng đầu khu vực Đông Nam Á.
Song song với chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai nhiều giải pháp để phát huy tiềm năng, lợi thế, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của Vùng ĐBSCL, cụ thể là: - Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2743/QĐ-TTg ngày 29- 12-2011. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch giai đoạn này được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013, xác định vùng ĐBSCL hay còn gọi là Tây Nam Bộ là một vùng du lịch quan trọng với các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù. Các định hướng phát triển cho vùng là du lịch sinh thái (miệt vườn, đất ngập nước), du lịch biển và du lịch văn hóa lễ hội. - Quyết định số 2227/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 18 tháng 11 năm 2016 về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn 2030, nêu rõ, tập trung phát triển 5 khu du lịch quốc gia, gồm: Thới Sơn nằm trong cụm cù lao Long Lân Quy Phụng (Tiền Giang, Bến Tre), Phú Quốc (Kiên Giang), Năm Căn - Mũi Cà Mau (Cà Mau), Tràm Chim - Láng Sen (Long An, Đồng Tháp), Núi Sam (An Giang).
7 điểm du lịch quốc gia, gồm: Khu phức hợp giải trí Xứ sở Hạnh phúc (Long An), Cù lao Ông Hổ (An Giang), Khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ và nhạc sỹ Cao Văn Lầu (Bạc Liêu), Bến Ninh Kiều (Cần Thơ), Hà Tiên (Kiên Giang), Văn Thánh Miếu (Vĩnh Long), Ao Bà Om (Trà Vinh). Dự báo đến năm 2020, vùng đón khoảng 34 triệu lượt khách, trong đó có khoảng 3,5 triệu lượt khách quốc tế. Phấn đấu đến năm 2030 đón khoảng 52 triệu lượt khách, trong đó khoảng 6,5 triệu lượt khách quốc tế; tổng thu từ khách du lịch (giá hiện hành) 17 đến năm 2020 đạt khoảng 25 nghìn tỷ đồng. Phấn đấu đến năm 2030 đạt trên 111 nghìn tỷ đồng.
- Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 về phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghị quyết đã đề cập cơ bản các vấn đề mang tính chiến lược căn bản, lâu dài đối với phát triển vùng, đưa ra các giải pháp tổng thể về quy hoạch, tổ chức không gian, cơ cấu kinh tế liên kết vùng và huy động nguồn lực cho phát triển, đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành địa phương. Nghị quyết này là cơ sở để triển khai nhiều chương trình, hoạt động của Chính phủ nhằm thúc đẩy phát triển bền vững của vùng. Ngoài ra, Chính phủ cũng ban hành nhiều chỉ thị để tăng cường công tác quản lý môi trường du lịch, như: Chỉ thị số 18/CT- TTg ngày 04 tháng 9 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý môi trường du lịch, bảo đảm an ninh, an toàn cho khách du lịch; Chỉ thị số 14/CT- TTg ngày 02 tháng 7 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch… Những chủ trương chính sách phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước là cơ sở pháp lý quan trọng và là nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch.
Điều đó cho thấy Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc đề ra các chính sách để quản lý và phát triển du lịch bền vững, giúp cho ngành du lịch nói chung và du lịch của vùng ĐBSCL nói riêng phát triển không ngừng, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, những quan điểm và chính sách phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước phải được vận dụng, soi sáng và là kim chỉ nam xuyên suốt trong quá trình qui hoạch phát triển du lịch ở nước ta. Từ Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/1/2017 của Bộ Chính trị khóa XII, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2743/QĐ-TTg, nhiều tỉnh, thành 18 khu vực ĐBSCL đã xây dựng Nghị quyết, chương trình hành động phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương mình. Cụ thể, tại Thành phố Cần Thơ, Thành ủy Cần Thơ đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU về đẩy mạnh phát triển du lịch.
Đến năm 2018, UBND thành phố Cần Thơ tiếp tục ban hành Chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch thành phố Cần Thơ giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2030. Tại Đồng Tháp, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 03/2015/QĐ-UBND về Đề án phát triển du lịch tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2015-2020. Đối với An Giang, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ X xác định: “Phát triển du lịch tỉnh An Giang thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh”. Qua đó, tập trung quảng bá nhằm xây dựng hình ảnh An Giang trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn theo hướng bền vững, chuyên nghiệp, hiện đại.
Tiềm năng và vai trò của du lịch ĐBSCL đối với phát triển kinh tế - xã hội địa phương Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, mang đậm bản sắc văn hóa nhân văn và có tính xã hội hóa rất cao. Du lịch còn là ngành công nghiệp không khói, mang lại nhiều lợi nhuận, có tác động tích cực thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng, nâng cao vị thế đất nước, phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, mở rộng giao lưu văn hóa khu vực ASEAN. Trong những năm gần đây, ngành du lịch nước ta đã có bước phát triển rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng, rất đáng khích lệ. Năm 2016, số lượng khách du lịch quốc tế đạt 10 triệu lượt người, tăng hơn 4,3 lần so với năm 2001; khách du lịch nội địa đạt 62 triệu lượt người, tăng 5,3 lần so với năm 2001.
Kết quả trên cho thấy, sự phát triển của ngành Du lịch đã và đang góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu tại chỗ; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên; tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất 19 nước, con người Việt Nam. Nhất là, sau khi Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành, cả nước dốc sức, tiền của đầu tư phát triển du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ để cạnh tranh với các nước trong khu vực. Thương hiệu du lịch Việt Nam được du khách thế giới biết đến nhiều hơn. Năm 2018, Việt Nam đón 15,6 triệu lượt khách quốc tế, tăng 2,7% lượt so với năm 2017 và 80 triệu lượt khách nội địa, tăng hơn 6,8 triệu lượt so với năm 2017.
Tổng doanh thu từ khách du lịch đạt hơn 620 ngàn tỷ đồng. Theo thông tin từ Tổng cục Du lịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), năm 2019, ngành Du lịch Việt Nam tiếp tục đạt được nhiều kết quả rất quan trọng. Toàn ngành đã đón hơn 18 triệu lượt khách quốc tế (tăng 16,2% so với năm 2018), phục vụ 85 triệu lượt khách nội địa, tổng thu đạt khoảng 720. Với kết quả này, Việt Nam được đánh giá là một trong 10 quốc gia có mức tăng trưởng du lịch nhanh nhất thế giới.1: Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam 2018-2019 Khách quốc tế Khách nội địa Tổng doanh thu Năm (ĐVT: Lượt khách) (ĐVT: Lượt khách) (ĐVT: Tỷ đồng) 2018 15,6 triệu 80 triệu 620.000 tỷ 2019 18 triệu 85 triệu 720.