Tổng quan nghiên cứu

Quản lý nhà nước về du lịch đóng vai trò nền tảng trong việc định hướng, huy động nguồn lực và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các địa phương có tiềm năng sinh thái - văn hóa độc đáo. Tỉnh Bắc Kạn sở hữu tổng diện tích đất tự nhiên là 485.996 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 413.366 ha (tương đương 85,1%) cùng hệ sinh thái đa dạng với 826 loài thực vật bậc cao và 52 loài quý hiếm ghi trong Sách đỏ Việt Nam. Địa phương này sở hữu danh thắng quốc gia đặc biệt hồ Ba Bể, hệ thống hang động karst và di tích lịch sử An toàn khu. Tuy nhiên, hiệu quả đóng góp của ngành du lịch vào tổng sản phẩm trên địa bàn còn khiêm tốn do những điểm nghẽn trong công tác quản lý công, quy hoạch hạ tầng và xúc tiến thương mại.

Vấn đề cốt lõi mà công trình nghiên cứu giải quyết là nhận diện thực trạng, đánh giá năng lực thực thi chính sách và chỉ ra các hạn chế trong cơ chế quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh. Luận văn hướng đến mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý công ngành du lịch, đánh giá toàn diện hoạt động quản lý tại Bắc Kạn trong giai đoạn 2017 - 2019, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp ứng dụng có tính khả thi cao đến năm 2025.

Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi không gian toàn tỉnh Bắc Kạn, tập trung vào 6 nội dung quản trị nhà nước từ cấp tỉnh đến cơ sở. Ý nghĩa của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để nâng cao hiệu lực quản lý, tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế địa phương, hướng tới mục tiêu gia tăng doanh thu du lịch và thu hẹp khoảng cách phát triển với các địa phương trong khu vực Đông Bắc như Cao Bằng (đạt doanh thu 470 tỷ đồng năm 2019) hay Hà Giang (đạt doanh thu 952,2 tỷ đồng năm 2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng tổng hợp lý thuyết quản lý công hiện đại (New Public Management), lý thuyết phát triển du lịch bền vững và lý thuyết chuỗi giá trị dịch vụ. Khung lý thuyết này tiếp cận hoạt động quản lý của chính quyền địa phương như một quá trình điều tiết đa chiều, kết hợp giữa quyền lực công, sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng dân cư bản địa.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa dựa trên Luật Du lịch số 09/2017/QH14 ban hành ngày 19/6/2017 và các hướng dẫn của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO). Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh được xác định là sự tác động có tổ chức của bộ máy chính quyền địa phương thông qua hệ thống văn bản pháp quy, quy hoạch ngành và các công cụ điều tiết kinh tế nhằm thúc đẩy du lịch phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm an ninh trật tự và bảo tồn tài nguyên sinh thái.

Mô hình phân tích nội dung quản lý nhà nước được cấu trúc hóa thành 6 trụ cột chính:

  1. Xây dựng tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ cán bộ công chức quản lý du lịch.
  2. Ban hành thể chế, xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch.
  3. Hoạt động thông tin, xúc tiến, quảng bá hình ảnh điểm đến.
  4. Quản lý, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành du lịch.
  5. Quản lý khai thác gắn liền với bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái du lịch.
  6. Thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động du lịch.

Khung phân tích này đảm bảo tính tương thích cao với Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/11/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và Nghị quyết số 92/NQ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng:

  • Dữ liệu thứ cấp: Được thu thập từ báo cáo tổng kết giai đoạn 2017 - 2019 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Kạn, số liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường, các báo cáo kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn cùng các số liệu đối sánh từ tỉnh Cao Bằng và Hà Giang.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc được thực hiện từ tháng 9/2019 đến tháng 11/2019. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ 46 cán bộ, công chức tham gia trực tiếp vào công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn (đạt tỷ lệ phản hồi 100%). Mẫu khảo sát bao gồm cán bộ thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch, Ban Quản lý Khu du lịch Ba Bể và Phòng Văn hóa - Thông tin của 8 huyện, thành phố. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn vì quy mô nhân lực quản lý du lịch chuyên trách cấp tỉnh còn tinh gọn, việc điều tra toàn diện giúp loại trừ sai số chọn mẫu và phản ánh chân thực năng lực quản trị.

Phương pháp xử lý dữ liệu sử dụng công cụ PivotTable trong phần mềm Microsoft Excel để phân tổ thống kê, phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) và phân tích so sánh biến động tuyệt đối, tương đối. Thang đo Likert 5 mức độ (từ mức 1: Rất không đồng ý đến mức 5: Rất đồng ý với các khoảng giá trị đánh giá từ 1,00 - 1,80; 1,81 - 2,60; 2,61 - 3,40; 3,41 - 4,20; 4,21 - 5,00) được áp dụng để lượng hóa các tiêu chí đánh giá về hiệu lực quản lý, chất lượng quy hoạch và hiệu quả thanh tra kiểm tra.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2017 - 2019 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn những khoảng trống năng lực đáng kể:

Thứ nhất, về bộ máy và nhân lực quản lý công, tổng số cán bộ chuyên trách toàn tỉnh tại thời điểm 31/12/2019 là 46 người. Cơ cấu nhân sự phân bố tại cơ quan quản lý chuyên môn cấp tỉnh, đơn vị sự nghiệp xúc tiến, ban quản lý điểm đến và phòng ban cấp huyện. Mặc dù 100% cán bộ có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên, tỷ lệ nhân sự được đào tạo đúng chuyên ngành quản lý du lịch hoặc kinh tế du lịch chỉ chiếm dưới 30%, phần lớn cán bộ cấp huyện phải kiêm nhiệm nhiều mảng công tác văn hóa, thể thao và thông tin.

Thứ hai, công tác quy hoạch và thực thi thể chế còn thiếu đồng bộ. Tỉnh đã xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, tuy nhiên việc lập quy hoạch xây dựng chi tiết tỷ lệ 1/2000 và 1/500 tại các phân khu chức năng thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể và các điểm danh thắng trọng điểm chưa hoàn thành. Điều này cản trở việc thu hút các tập đoàn kinh tế lớn tham gia đầu tư các tổ hợp nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp.

Thứ ba, công tác xúc tiến du lịch và phát triển thị trường chưa tương xứng với tiềm năng. Bắc Kạn sở hữu 5 con sông lớn với chiều dài 343 km và diện tích rừng tự nhiên rộng lớn nhất vùng Đông Bắc, nhưng ngân sách dành cho xúc tiến thương mại còn hạn hẹp. Hoạt động quảng bá chủ yếu dựa vào các ấn phẩm truyền thống (tập gấp, bản đồ), sự hiện diện số trên các nền tảng thông tin thông minh còn sơ khai. So với tỉnh Cao Bằng năm 2019 thu hút 175.000 lượt khách quốc tế và tổng doanh thu 470 tỷ đồng (tăng 30,1% so với năm 2018), quy mô du lịch Bắc Kạn vẫn ở mức thấp.

Thứ tư, công tác kiểm tra, giám sát và bảo vệ môi trường được duy trì định kỳ nhưng tính răn đe chưa cao. Giai đoạn 2017 - 2019, các đoàn kiểm tra liên ngành đã tiến hành nhiều đợt rà soát cơ sở lưu trú và điểm đến, song phần lớn dừng lại ở mức nhắc nhở, hướng dẫn thủ tục hành chính, số vụ xử phạt vi phạm hành chính chỉ chiếm dưới 5% tổng số đơn vị được thanh tra.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các hạn chế trên xuất phát từ rào cản địa hình chia cắt phức tạp làm 3 khu vực (khu vực phía Đông đồi núi cao, khu vực phía Tây địa hình karst Ba Bể, khu vực trung tâm thung lũng hẹp) cùng hạ tầng giao thông kết nối liên vùng phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống đường bộ độc đạo. Sự thiếu hụt các sản phẩm du lịch vệ tinh khiến thời gian lưu trú bình quân của du khách tại Bắc Kạn chỉ đạt khoảng 1,2 - 1,4 ngày/khách.

Dữ liệu khảo sát từ 46 cán bộ quản lý có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch giữa tỷ lệ cán bộ có bằng cấp chuyên ngành du lịch và chuyên ngành khác, kết hợp với biểu đồ đường thể hiện tương quan tăng trưởng khách du lịch và doanh thu giữa Bắc Kạn với các tỉnh lân cận như Hà Giang và Cao Bằng giai đoạn 2017 - 2019. Kết quả thảo luận chỉ ra rằng, nếu không giải quyết bài toán quy hoạch phân khu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, Bắc Kạn khó có thể tạo ra bước đột phá về doanh thu dịch vụ du lịch.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, luận văn đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện quy hoạch chi tiết và cơ chế thu hút đầu tư: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoàn thành phê duyệt 100% quy hoạch phân khu chi tiết tỷ lệ 1/2000 và 1/500 cho Khu du lịch Quốc gia Ba Bể và các điểm du lịch tiềm năng trước quý IV năm 2023. Mục tiêu thu hút từ 3 đến 5 nhà đầu tư chiến lược xây dựng hạ tầng lưu trú đạt chuẩn 3 - 4 sao.
  2. Chuyển đổi số trong quản lý và xúc tiến du lịch: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì xây dựng Cổng thông tin du lịch thông minh kết hợp ứng dụng du lịch trên thiết bị di động trong giai đoạn 2021 - 2023, số hóa 100% dữ liệu tài nguyên du lịch, phấn đấu đạt trên 500.000 lượt tương tác trực tuyến mỗi năm.
  3. Chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các cơ sở đào tạo tổ chức bồi dưỡng chuẩn hóa chức danh quản lý nhà nước cho 100% cán bộ (46 nhân sự chuyên trách) trước năm 2023, đồng thời mở các lớp tập huấn kỹ năng du lịch cộng đồng cho ít nhất 300 lao động địa phương mỗi năm trong giai đoạn 2021 - 2025.
  4. Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù và liên kết vùng: Ban Quản lý Khu du lịch Ba Bể phối hợp với Hiệp hội Du lịch tỉnh xây dựng chuỗi tour liên kết "Bắc Kạn - Cao Bằng - Hà Giang", đa dạng hóa sản phẩm du lịch sinh thái, mạo hiểm và văn hóa bản địa, nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách lên 2,5 ngày vào năm 2025.
  5. Tăng cường kiểm soát môi trường và thực thi pháp luật: Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp liên ngành với Công an tỉnh và Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức thanh tra định kỳ 100% cơ sở kinh doanh lưu trú, dịch vụ thuyền máy, kiên quyết xử lý các vi phạm về niêm yết giá và xả thải, đảm bảo 100% chất thải tại các điểm du lịch được thu gom và xử lý đạt chuẩn sinh thái.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và địa phương: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa - Thông tin các huyện, thành phố sử dụng luận văn làm cơ sở dữ liệu thực chứng để rà soát bộ máy, xây dựng đề án phát triển du lịch giai đoạn 2021 - 2025 và ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư du lịch phù hợp.
  2. Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, khách sạn tham khảo số liệu phân tích về tiềm năng địa hình, hiện trạng 485.996 ha đất tự nhiên cùng các điểm danh thắng để xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm tour, tuyến mới và nắm bắt các quy định quản lý của chính quyền địa phương.
  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các nhà khoa học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công và Kinh tế du lịch có thể sử dụng đề tài như một công trình nghiên cứu điển hình về phương pháp khảo sát toàn bộ mẫu (N = 46) và mô hình đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước tại địa bàn miền núi.
  4. Chính quyền các tỉnh miền núi có điều kiện tương đồng: Ban chỉ đạo phát triển du lịch các tỉnh như Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn có thể tham khảo các bài học kinh nghiệm về quản trị tài nguyên rừng karst, phân cấp quản lý điểm đến và cơ chế thúc đẩy du lịch sinh thái cộng đồng bền vững.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận văn sử dụng phương pháp khảo sát nào để đánh giá thực trạng quản lý du lịch tại Bắc Kạn? Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu toàn bộ với quy mô 46 cán bộ quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh trong thời gian từ tháng 9/2019 đến tháng 11/2019. Bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1,00 đến 5,00) kết hợp công cụ PivotTable trong Excel để đo lường định lượng mức độ đồng thuận và nhận định của cán bộ về hiệu quả các mặt quản lý công.

  2. Đặc điểm tự nhiên nào của tỉnh Bắc Kạn tạo lợi thế cạnh tranh cho phát triển du lịch sinh thái? Bắc Kạn có 413.366 ha đất lâm nghiệp chiếm 85,1% diện tích tự nhiên, sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên núi đá vôi với 826 loài thực vật và 52 loài quý hiếm trong Sách đỏ. Địa hình sụt karst độc đáo tạo nên hồ Ba Bể cùng mạng lưới 5 hệ thống sông lớn dài 343 km, mang lại tiềm năng vượt trội về du lịch khám phá và thể thao mạo hiểm.

  3. Hạn chế lớn nhất trong công tác quản lý nhà nước về du lịch tại Bắc Kạn giai đoạn 2017 - 2019 là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là công tác lập quy hoạch chi tiết 1/2000 và 1/500 tại các khu, điểm du lịch trọng tâm chưa hoàn thành, dẫn đến khó khăn trong xúc tiến đầu tư hạ tầng cao cấp. Hoạt động quảng bá chưa liên tục, chuyển đổi số chậm hơn so với các tỉnh lân cận như Cao Bằng và Hà Giang.

  4. Luận văn rút ra bài học kinh nghiệm quản lý nào từ hai tỉnh Cao Bằng và Hà Giang? Nghiên cứu chỉ ra hai bài học thiết thực: Thứ nhất, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin qua mô hình cổng du lịch thông minh như cách làm của Cao Bằng; thứ hai, phát triển du lịch chiều sâu gắn liền với bảo tồn nghiêm ngặt di sản địa chất và bản sắc văn hóa dân tộc như định hướng phát triển bền vững của Hà Giang.

  5. Các giải pháp đề xuất trong luận văn hướng tới những mục tiêu định lượng cụ thể nào đến năm 2025? Hệ thống giải pháp đặt mục tiêu phê duyệt 100% quy hoạch chi tiết các điểm đến trọng điểm trước năm 2023, chuẩn hóa năng lực cho 46 cán bộ chuyên trách, đào tạo hàng năm 300 lao động cộng đồng, nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách lên 2,5 ngày và số hóa toàn diện dữ liệu điểm đến du lịch tỉnh Bắc Kạn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện khung lý luận và cơ sở pháp lý về quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh theo tinh thần Luật Du lịch năm 2017.
  • Đánh giá thực chứng năng lực bộ máy quản lý gồm 46 cán bộ chuyên trách và hiện trạng khai thác tài nguyên trên diện tích 485.996 ha tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2017 - 2019.
  • Nhận diện chính xác các rào cản về quy hoạch chi tiết, hạ tầng giao thông và nguồn lực xúc tiến du lịch so với các địa phương lân cận trong vùng Đông Bắc.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm quản lý thực tế từ Cao Bằng và Hà Giang để vận dụng vào việc xây dựng chính sách kinh tế du lịch địa phương.
  • Đề xuất đồng bộ 5 nhóm giải pháp và lộ trình hành động đến năm 2025 nhằm hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao hiệu lực quản lý công.

Đóng góp lớn nhất của công trình là tạo lập một hệ thống dữ liệu thực nghiệm hoàn chỉnh về quản trị du lịch cấp tỉnh tại địa bàn miền núi khó khăn. Các cơ quan quản lý nhà nước cần khẩn trương đưa các khuyến nghị quy hoạch và đào tạo nhân lực vào kế hoạch hành động giai đoạn 2021 - 2023 để tạo bước đột phá kinh tế - xã hội bền vững cho tỉnh Bắc Kạn.