Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa: Nghiên Cứu Tại Hà Nội

Nghiên cứu luận án tiến sĩ về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp phát triển.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ kinh tế

2017

182
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2. Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

2.1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

2.2. Cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa

2.3. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

2.4. Các tiêu chí xác định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

2.6. Mô hình nghiên cứu lý thuyết đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

2.7. Cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu

2.8. Mô hình nghiên cứu đề xuất

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Lựa chọn phương pháp nghiên cứu

3.2. Nghiên cứu định tính

3.3. Tổng quan các tài liệu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu

3.4. Xây dựng đề cương phỏng vấn sâu các chuyên gia và thực hiện phỏng vấn

3.5. Xây dựng và phát triển thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

3.6. Tổng hợp thang đo các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

3.7. Thiết kế bảng hỏi sơ bộ

3.8. Nghiên cứu định lượng

3.9. Nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.10. Nghiên cứu định lượng chính thức

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DNNVV QUA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ

4.1. Kết quả nghiên cứu định lượng về nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

4.2. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

4.3. Kết quả phân tích hệ số khẳng định CFA (Confirmatory Factor Analysis)

4.4. Kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

4.5. Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình

4.6. Kiểm tra sự vi phạm các giả định cần thuyết trong mô hình hồi quy

4.7. Kiểm định sự khác biệt của mô hình theo lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp

4.8. Kiểm định giả thuyết

4.9. Phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà nội

4.10. Đánh giá chung năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà nội

4.11. Năng lực tài chính

4.12. Năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp

4.13. Năng lực tiếp cận và đổi mới công nghệ

4.14. Năng lực tạo lập các mối quan hệ

4.15. Năng lực Marketing

4.16. Năng lực tổ chức dịch vụ

4.17. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

4.17.1. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa

4.17.2. Một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Năng Lực Cạnh Tranh DNNVV Hà Nội Góc Nhìn Mới

Trong bối cảnh kinh tế thị trường, năng lực cạnh tranh là yếu tố sống còn đối với mọi doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV. Nghiên cứu về cạnh tranh đã có từ lâu, nhưng nghiên cứu chuyên sâu về năng lực cạnh tranh mới chỉ thực sự phát triển từ những năm 1980. Mặc dù vậy, đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về năng lực cạnh tranh. Porter đã chỉ ra rằng đến năm 1990, khái niệm này vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh DNNVV Hà Nội cần tiếp cận đa chiều và hệ thống, kết hợp lý thuyết và thực tiễn để đưa ra những giải pháp phù hợp, góp phần thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế quan trọng này. Theo kết quả tổng hợp của Buckley, Pass và Prescott năm 1988, có rất ít định nghĩa được chấp nhận về năng lực cạnh tranh.

1.1. Lịch Sử Nghiên Cứu Về Năng Lực Cạnh Tranh DNNVV Hà Nội

Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh bắt đầu muộn hơn so với các lý thuyết về cạnh tranh. Từ những năm 1980, số lượng công trình nghiên cứu tăng mạnh. Tuy nhiên, đến nay, vẫn còn nhiều tranh cãi về định nghĩa và các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh. Các công trình nghiên cứu hiện tại đa số chỉ tập trung vào những yếu tố đã cũ, cần thiết có những nghiên cứu đào sâu hơn nữa để có thể thực sự hiểu rõ năng lực cạnh tranh.

1.2. Các Trường Phái Nghiên Cứu Lợi Thế Cạnh Tranh DNNVV Hà Nội Hiện Nay

Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh được chia thành 5 hướng chính: lý thuyết cạnh tranh truyền thống, chuỗi giá trị, định hướng thị trường, lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp và lý thuyết năng lực. Mỗi hướng tiếp cận có những ưu điểm và hạn chế riêng, cần được xem xét kỹ lưỡng khi phân tích năng lực cạnh tranh. Cần kết hợp các hướng nghiên cứu này để đưa ra một cái nhìn toàn diện về năng lực cạnh tranh, đặc biệt là đối với DNNVV.

II. Thách Thức Đánh Giá Đúng Thực Trạng Năng Lực Cạnh Tranh DNNVV

Việc đánh giá đúng thực trạng năng lực cạnh tranh của DNNVV tại Hà Nội gặp nhiều thách thức do sự đa dạng về quy mô, lĩnh vực hoạt động và trình độ phát triển của các doanh nghiệp. Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cần được lựa chọn và xây dựng phù hợp với đặc thù của DNNVV. Bên cạnh đó, cần có phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu chính xác, khách quan để đảm bảo tính tin cậy của kết quả đánh giá. Cần chú trọng đánh giá cả năng lực cạnh tranh bên trong (nội lực) và năng lực cạnh tranh bên ngoài (khả năng thích ứng với môi trường).

2.1. Sự Đa Dạng Của DNNVV Hà Nội Khó Khăn Trong Đánh Giá

DNNVV tại Hà Nội hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ thương mại, dịch vụ đến sản xuất công nghiệp. Quy mô và trình độ phát triển của các doanh nghiệp cũng rất khác nhau, gây khó khăn cho việc xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh chung. Cần có sự phân loại và đánh giá riêng cho từng nhóm DNNVV để có cái nhìn chính xác hơn.

2.2. Thiếu Hụt Dữ Liệu Tin Cậy Về Chỉ Số Năng Lực Cạnh Tranh DNNVV

Việc thu thập dữ liệu về năng lực cạnh tranh của DNNVV gặp nhiều khó khăn do các doanh nghiệp thường không muốn chia sẻ thông tin hoặc không có hệ thống quản lý dữ liệu đầy đủ. Dữ liệu thống kê từ các cơ quan nhà nước cũng còn hạn chế, gây khó khăn cho việc phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan để cải thiện chất lượng dữ liệu.

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh DNNVV theo góc nhìn bên trong

Theo luận án thì đối với các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh DNNVV, luận án chỉ nghiên cứu tác động của các nhân tố bên trong đến NLCT của DNNVV. Để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của DNNVV, luận án đã đưa ra quan điểm về NLCT của DNNVV theo lý thuyết năng lực, khác với các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận NLCT theo lý thuyết cạnh tranh truyền thống.

III. Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh DNNVV Qua Đổi Mới

Để nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV tại Hà Nội, cần tập trung vào đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng thương hiệu. Cần có chính sách hỗ trợ từ nhà nước để khuyến khích DNNVV đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực và mở rộng thị trường. Cần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, giảm thiểu thủ tục hành chính và tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận vốn vay.

3.1. Đầu Tư Vào Đổi Mới Sáng Tạo DNNVV Chìa Khóa Thành Công

Đổi mới sáng tạo là yếu tố then chốt để DNNVV tạo ra sự khác biệt và nâng cao năng lực cạnh tranh. Cần khuyến khích DNNVV đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Cần có chính sách hỗ trợ từ nhà nước để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong DNNVV.

3.2. Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực DNNVV Hà Nội

Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng để DNNVV tiếp thu và ứng dụng công nghệ mới, quản lý hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và đáp ứng yêu cầu của thị trường. Cần có chương trình đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý và người lao động trong DNNVV. Cần có sự liên kết giữa các trường đại học, cao đẳng và các DNNVV để đào tạo nhân lực theo nhu cầu của doanh nghiệp.

3.3. Xây Dựng và Phát Triển Thương Hiệu DNNVV Tạo Dựng Uy Tín

Xây dựng và phát triển thương hiệu giúp DNNVV tạo dựng uy tín và lòng tin với khách hàng, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh. Cần khuyến khích DNNVV đầu tư vào xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm và dịch vụ và tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại. Cần có sự hỗ trợ từ các tổ chức xúc tiến thương mại để giúp DNNVV xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.

IV. Nghiên Cứu Yếu Tố Ảnh Hưởng Năng Lực Cạnh Tranh DNNVV

Luận án xác định các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến NLCT của DNNVV như: năng lực tài chính, năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp, năng lực tiếp cận và đổi mới công nghệ, năng lực tạo lập các mối quan hệ, năng lực Marketing, năng lực tổ chức dịch vụ. Đánh giá được mức độ tác động của từng nhân tố đến NLCT của DNNVV. Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy, nhân tố Năng lực thiết lập các mối quan hệ là một trong những yếu tố tác động quan trọng đến năng lực cạnh tranh của DNNVV.

4.1. Năng Lực Tài Chính Đánh Giá và Giải Pháp

Năng lực tài chính là khả năng quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp. Các chỉ số tài chính quan trọng bao gồm: khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, hiệu quả sử dụng vốn. DNNVV cần có chiến lược quản lý tài chính hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán, tăng cường khả năng sinh lời và sử dụng vốn hiệu quả.

4.2. Năng Lực Tổ Chức Quản Lý Vai Trò của Nhà Quản Lý

Năng lực tổ chức quản lý bao gồm khả năng hoạch định chiến lược, tổ chức bộ máy, điều hành hoạt động và kiểm soát hiệu quả. Nhà quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp. Cần có chương trình đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý trong DNNVV.

4.3. Khả năng thiết lập quan hệ Yếu tố tác động đến NLCT

Luận án đã bổ sung thêm nhân tố: Năng lực thiết lập các mối quan hệ vào nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của DNNVV ở Việt Nam, đồng thời kiểm định và phát triển thang đo nhân tố này. Đây là một nội dung mới mà chưa có nghiên cứu nào đã thực hiện trước đây.

V. Ứng Dụng Kiến Nghị Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh DNNVV

Trên cơ sở phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng, luận án đề xuất một số kiến nghị đối với các DNNVV và các cơ quan quản lý nhà nước. Đối với DNNVV, cần chủ động đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng thương hiệu. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, cần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, giảm thiểu thủ tục hành chính và có chính sách hỗ trợ phù hợp.

5.1. Kiến Nghị Đối Với Các DNNVV Hà Nội Hành Động Cụ Thể

Các DNNVV cần chủ động xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp, tập trung vào các thị trường ngách và tạo ra sự khác biệt. Cần đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh. Cần chú trọng xây dựng và phát triển thương hiệu, quảng bá sản phẩm và dịch vụ. Cần xây dựng mối quan hệ tốt với khách hàng, đối tác và các cơ quan quản lý nhà nước.

5.2. Kiến Nghị Đối Với Cơ Quan Quản Lý Nhà Nước Hỗ Trợ Thiết Thực

Cơ quan quản lý nhà nước cần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, giảm thiểu thủ tục hành chính và có chính sách hỗ trợ phù hợp cho DNNVV. Cần có chương trình hỗ trợ tài chính, đào tạo nhân lực và xúc tiến thương mại cho DNNVV. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

VI. Tương Lai Năng Lực Cạnh Tranh Bền Vững DNNVV Trong Hội Nhập

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, năng lực cạnh tranh bền vững là yếu tố then chốt để DNNVV tồn tại và phát triển. Cần có sự thay đổi tư duy và hành động từ cả DNNVV và các cơ quan quản lý nhà nước để xây dựng một hệ sinh thái kinh doanh bền vững, nơi DNNVV có thể phát huy tối đa tiềm năng và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

6.1. Định Hướng Phát Triển Năng Lực Cạnh Tranh Quốc Tế DNNVV

Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, DNNVV cần nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Cần đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh. Cần xây dựng thương hiệu mạnh và có chiến lược marketing hiệu quả.

6.2. Xây Dựng Hệ Sinh Thái Hỗ Trợ DNNVV Hà Nội Bền Vững

Hệ sinh thái hỗ trợ DNNVV bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức tài chính, các trường đại học, cao đẳng, các tổ chức xúc tiến thương mại và các doanh nghiệp lớn. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành phần trong hệ sinh thái để tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNVV phát triển.

23/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia.

Việc nghiên cứu hiện tượng cạnh tranh đã có từ lâu và lý thuyết về cạnh tranh cũng xuất hiện từ rất sớm với các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh của trường phái tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại. Các lý thuyết này đã làm rõ bản chất của cạnh tranh, vai trò và tác động của cạnh tranh, các phương thức cạnh tranh v. Ngoài các nhà kinh tế cổ điển và các nhà kinh điển, các lý thuyết cạnh tranh gắn với các tên tuổi nổi tiếng của trường phái canh tranh hoàn hảo như w. và trường phái canh tranh hiện đại như E.Aglietta, Micheal Porter, Micheal Eairbank.

Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh một cách hệ thống lại được bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những năm 1980 đến nay. Theo kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các nhà kinh tế người Anh là Buckley, Pass và Prescott, đến năm 1988 có rất ít định nghĩa về năng lực cạnh tranh được chấp nhận. Porter - một chuyên gia hàng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh lại chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ và chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận một cách thống nhất. Năm 1996, Waheeduzzan và các cộng sự cho rằng "năng lực canh tranh vẫn là một trong những khái niệm được hiểu thiếu đầy đủ" (misunderstood concept).

Cho đến năm 2004, Henricsson và các cộng sự chỉ rõ rằng khái niệm năng lực canh tranh vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các nhà báo, các học giả. Tổng thuật tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, một số tác giả như Thorne (2002, 2004), Momay (2002, 2005), Flanagan và cộng sự (2007) đã chỉ ra 7 rằng, bắt đầu từ những năm 1990 đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bước vào thời kỳ "bùng nổ" với số lượng công trình nghiên cứu được công bố rất lớn. Các hướng nghiên cứu về NLCT qua nghiên cứu của tác giả được chia thành 5 hướng chính: (1)NLCT tiếp cận theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh truyền thống;(2) NLCT tiếp cận theo chuỗi giá trị;(3)NLCT tiếp cận theo định hướng thị trường; (4)NLCT tiếp cận theo lý thuyết nguồn lực DN; (5) NLCT tiếp cận theo lý thuyết năng lực 1. Năng lực cạnh tranh theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh truyền thống Lý thuyết cạnh tranh truyền thống với các trường phái nghiên cứu nổi tiếng như: Kinh tế học Chamberlin, Kinh tế học tổ chức (Industrial Organization economics - IO).

Lý thuyết cạnh tranh trên cơ sở kinh tế học IO (Porter, 1980), cạnh tranh độc quyền (Chamberlin, 1933) thường dựa trên tiền đề là các DN trong cùng ngành có tính đồng nhất về nguồn lực và chiến lược kinh doanh họ sử dụng (Baney,1991). Tuy nhiên, khi môi trường kinh doanh thay đổi và có tác động đến chiến lược kinh doanh thì các thuộc tính khác biệt của DN trong cùng ngành sẽ không thể tồn tại lâu dài vì chúng thường có thể dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh bắt chước, hoặc mua bán trên thị trường nguồn lực (Barney, 1991; Porter, 1980). Kinh tế học tổ chức và kinh tế độc quyền phân tích NLCT trong điều kiện mất cân bằng của thị trường và nền kinh tế độc quyền với giả định DN có lợi thế tuyệt đối về các tài sản, nguồn lực. Do vậy, trong môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng thì các điều kiện về chí phí, công nghệ, quy mô,.

đã không còn là lợi thế của DN. Mặt khác, đối tượng phân tích của kinh tế học tổ chức và cạnh tranh độc quyền đều hướng tới các ngành kinh doanh với giả định là các DN trong cùng ngành có điều kiện về tài sản, nguồn lực đồng nhất. Đây là hạn chế lớn nhất trong việc giải thích lợi thế cạnh tranh của các DN trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Năng lực cạnh tranh tiếp cận từ chuỗi giá trị Chuỗi giá trị là một khái niệm được đưa ra đầu tiên bởi Porter vào năm 1985 trong cuốn “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior 8 Performance”.

Theo cuốn sách này, chuỗi giá trị là tổng thể các hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tương tác giữa các yếu tố cần và đủ để tạo ra một hoặc một nhóm sản phẩm. Các hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phẩm - nhóm sản phẩm theo một phương thức nhất định. Giá trị tạo ra của chuỗi bao gồm tổng các giá trị tạo ra tại mỗi công đoạn của chuỗi.

Porter (1985) cho rằng, chuỗi giá trị gồm có 9 hoạt động, trong đó có 5 hoạt động cơ bản và 4 hoạt động bổ trợ. Những hoạt động cơ bản thể hiện một chuỗi những công việc từ cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, gia công sản phẩm, phân phối sản phẩm, đến hoạt động bán hàng và các dịch vụ sau bán hàng. Các hoạt động cơ bản này trực tiếp liên quan đến luồng di chuyển (vật lý) của quá trình tạo ra giá trị sử dụng của sản phẩm và đưa sản phẩm đến với người sử dụng. Hoạt động hậu cần đầu vào liên quan đến việc tiếp nhận, lưu kho và đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất.

Hoạt động sản xuất liên quan đến quá trình chế biến nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm cuối cùng. Hoạt động hậu cần đầu ra liên quan đến tiếp nhận, lưu kho và phân phối thành phẩm đến nơi tiêu thụ. Hoạt động marketing và bán hàng liên quan đến việc tạo ra những phương thức và khuyến khích người mua. Dịch vụ (sau bán hàng) liên quan đến các hoạt động nhằm duy trì hoặc tăng cường giá trị của sản phẩm.

Vì vậy, đây có thể coi là các hoạt động trực tiếp ảnh hưởng đến NLCT của DN, làm tốt các hoạt động cơ bản này cũng đồng nghĩa sẽ tạo ra NLCT vượt trội so với đối thủ. Những hoạt động bổ trợ, tuy không trực tiếp liên quan đến việc tạo ra giá trị sử dụng cho sản phẩm, nhưng chúng tham gia vào toàn bộ quá trình tạo ra giá trị của các hoạt động cơ bản, có chức năng trợ giúp cho các hoạt động cơ bản. Hoạt động quản trị thu mua kiểm soát sự lưu chuyển vật tư qua chuỗi giá trị từ cung cấp đến sản xuất và đi vào phân phối, chúng góp phần kiểm soát chất lượng đầu vào trong quá trình sản xuất, đồng thời hiệu quả của các hoạt động này có thể làm giảm chi phí sản xuất của DN. Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R & D) liên quan đến việc phát triển các sản phẩm mới, các phương pháp công nghệ mới, cho phép giảm 9 chi phí sản xuất hoặc tạo ra những sản phẩm hấp dẫn hơn có thể bán ở mức giá cao hơn.

Hoạt động quản trị nguồn nhân lực đảm bảo rằng công ty sử dụng hợp lý những người có kỹ năng để thực hiện có hiệu quả các hoạt động tạo ra giá trị. Hạ tầng (quản lý) của DN là hoạt động bổ trợ có một đặc trưng khác so với các hoạt động khác. Hạ tầng của DN là khung quản lý chung của toàn DN, trong đó bao gồm cơ cấu tổ chức, các hệ thống kiểm soát và văn hóa DN. Vì vậy, có thể coi đây là các hoạt động ảnh hưởng đến NLCT của DN, DN cần làm tốt các hoạt động bổ trợ sẽ nâng cao NLCT của mình.

Chuỗi giá trị tổng quát của Porter (1985, 1998) là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất để đại diện cho hoạt động của một công ty và các quy trình kinh doanh. Trong thực tế, Porter (1985,1998) giả định rằng trong chuỗi giá trị các nguồn lực của một DN là phụ thuộc vào hoạt động của nó - và vì thế hình thức chuỗi giá trị của một công ty (các nguồn lực và khả năng nó sử dụng) phụ thuộc vào cơ cấu ngành công nghiệp, các hoạt động chức năng mà DN tập trung vào, các chuỗi giá trị của khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh và liệu DN có một chi phí hoặc sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh tiếp cận dựa trên định hướng thị trường Lý thuyết năng lực cạnh tranh dựa trên định hướng thị trường (Market Orientation - MO) được phát triển trên cơ sở cho rằng một DN sẽ đạt được năng lực cạnh tranh bằng cách tập trung vào việc làm thế nào để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, tạo ra giá trị khách hàng tốt hơn so với đối thủ và đạt được kết quả hoạt động kinh doanh. Đây là quan điểm nghiên cứu năng lực cạnh tranh xuất phát từ thị trường, thực chất là đi từ kết quả của các hoạt động giá trị để truy ngược lại điều gì tạo ra giá trị khách hàng vượt trội so với đối thủ và do đó sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh cho DN.

Lý thuyết này bao gồm 8 tiếp cận nghiên cứu: quan điểm quyết định (Shapiro, 1988), quan điểm thông tin thị trường (Kohli & Jaworski,1990), quan điểm hành vi văn hóa (Day, 1994; Deshpande & ctg, 1993; Slater & Narver, 1990), quan điểm trọng tâm chiến lược (Ruekert, 1992), quan điểm định hướng khách hàng 10 (Deshpandé & ctg, 1993.), quan điểm dựa trên hệ thống (Becker& Homburg, 1999; Hunt & Morgan, 1995), quan điểm tổ chức học tập dựa trên thị trường (Sinkula, 1994) và quan điểm quan hệ khách hàng (Baker & Sinkula, 1999). Quan điểm định hướng thị trường cho rằng các công ty đạt được năng lực cạnh tranh là “công ty theo định hướng thị trường được phân biệt bởi khả năng sự kiện và xu hướng thị trường của họ trước đối thủ cạnh tranh. Họ có thể dự đoán chính xác hơn phản ứng với hành động được thiết kế để duy trì hoặc thu hút khách hàng, cải thiện quan hệ kênh phân phối, hoặc ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh. DN có thể hành động dựa trên thông tin thị trường một cách kịp thời và chặt chẽ bởi các giả định về thị trường được chia sẻ rộng rãi” (Day, 1994, tr.

Khả năng tổ chức này có ý nghĩa quan trọng đối với việc đạt được tính bền vững của lợi thế cạnh tranh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Tại Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Hà Nội. Tài liệu phân tích các thách thức mà DNNVV phải đối mặt, bao gồm khả năng tiếp cận nguồn vốn, công nghệ, và thị trường. Đồng thời, nó cũng nêu bật những cơ hội mà DNNVV có thể khai thác để nâng cao vị thế cạnh tranh của mình trong bối cảnh kinh tế hiện nay.

Đối với những ai quan tâm đến việc cải thiện hiệu quả kinh doanh, tài liệu này là một nguồn thông tin quý giá. Để mở rộng kiến thức của bạn, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần thuận đức, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp cụ thể. Ngoài ra, tài liệu Đổi mới mô hình kinh doanh hiệu quả doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các mô hình kinh doanh sáng tạo có thể áp dụng cho DNNVV. Cuối cùng, tài liệu Nâng cao hiệu quả tín dụng cho doanh nghiệp tại NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam sẽ cung cấp thông tin hữu ích về cách tối ưu hóa nguồn vốn cho DNNVV.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn hiểu rõ hơn về năng lực cạnh tranh mà còn mở ra nhiều cơ hội để áp dụng kiến thức vào thực tiễn kinh doanh.