Chương 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh dịch vụ vận tải đường thủy của doanh nghiệp vận tải đường thủy. Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ vận tải đường thủy của Tổng Công ty Vận tải thủy Petrolimex giai đoạn 2019-2021. Chương 3: Định hướng giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ vận tải đường thủy của Tổng Công ty Vận tải thủy Petrolimex đến 2025.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ VẬN TẢI ĐƯỜNG THỦY CỦA DOANH NGHIỆP VẬN TẢI ĐƯỜNG THỦY 1. Năng lực cạnh tranh dịch vụ vận tải đường thủy của các doanh nghiệp vận tải đường thủy 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh dịch vụ vận tải đường thủy Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển nền kinh tế xã hội. Trong mọi phương diện của cuộc sống ý thức vươn lên luôn là yếu tố chủ đạo hướng suy nghĩ và hành động của con người.
Hoạt động sản xuất kinh doanh là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội, trong đó ý thức vươn lên không đơn thuần là mong muốn đạt được một mục tiêu nào đó mà còn là tham vọng trở thành người đứng đầu. Suy nghĩ và hành động trong sản xuất kinh doanh bị chi phối rất nhiều bởi tính kinh tế khắc nghiệt. Trong giai đoạn hiện nay, yếu tố được coi là khắc nghiệt nhất là cạnh tranh. Môi trường hoạt động của doanh nghiệp ngày nay đầy biến động và cạnh tranh hiện nay là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trường nhằm giành giật nhiều các lợi ích kinh tế hơn về mình.
Thực chất cạnh tranh là sự tranh giành lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia vào thị trường với tham vọng “mua rẻ-bán đắt”. Cạnh tranh là một phương thức vận động của thị trường và quy luật cạnh tranh là một trong những quy luật quan trọng nhất chi phối sự hoạt động của thị trường. Sở dĩ như vậy vì đối tượng tham gia vào thị trường là bên mua và bên bán; Đối với bên mua mục đích là tối đa hóa lợi ích của những hàng hóa mà họ mua được còn với bên bán thì ngược lại phải làm sao để tối đa hóa lợi nhuận trong những tình huống cụ thể của thị trường. Như vậy trong cơ chế thị trường tối đa hóa lợi nhuận đối với các doanh nghiệp là mục tiêu quan trọng và điển hình nhất.
Do đó, có rất nhiều học giả nghiên cứu cạnh tranh và đưa ra những cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm này. Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.13) Với cách tiếp cận này, mục tiêu cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận của nhà tư bản thông qua việc đấu tranh để tận dụng và khai thác các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia cùng sản xuất một loại hàng hóa, dịch vụ trên cùng một thị trường 7 để giành được nhiều khách hàng, nhằm tạo ra những điều kiện có lợi nhất trong việc sản xuất tiêu thụ hàng hóa dịch vụ với lợi nhuận cao nhất. Ngày nay hầu như tất cả các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh, coi cạnh tranh là một tất yếu khách quan.
ở Việt Nam, cùng với việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, cạnh tranh đã từng bước được tiếp nhận như một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức quản lý và điều khiển nền kinh tế quốc dân nói chung, trong tổ chức và điều hành kinh doanh trong các doanh nghiệp nói riêng. Cạnh tranh không những là môi trường và động lực của sự phát triển mà còn là một yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, tạo động lực cho sự phát triển. Trên thực tế, còn rất nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh của doanh nghiệp, theo tác giả đúc kết được là: “Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất, kinh doanh với nhau dựa trên những chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế( OECD) thì năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ. Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó đối với các doanh nghiệp khác trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao. Như vậy, năng lực cạnh tranh có thể hiểu là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực và các điều kiện khách quan một cách có hiệu quả nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh trước đối thủ, đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trên thị trường.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên nhiều yếu tố như: giá trị sử dụng và chất lượng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất dựa chủ yếu trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ. Các yếu tố xã hội như giữ được tín nhiệm (chữ tín) trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dẫn tiêu dùng, quảng cáo cũng có ảnh hưởng quan trọng hiện nay các nhà sản xuất còn sử dụng một số hình thức như 8 bán hàng trả tiền dần (trả góp) để kích thích tiêu dùng, trên cơ sở đó tăng năng lực cạnh tranh. Từ các quan điểm trên, tác giả cho rằng: “Năng lực cạnh tranh dịch vụ vận tải đường thủy là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực giới hạn như nhân lực, vật lực, tài lực,.để tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh; đồng thời, biết lợi dụng các điều kiện khách quan một cách có hiệu quả để tạo ra lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ, xác lập vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường, từ đó, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập và lợi nhuận cao, đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại, tăng trưởng và phát triển bền vững”. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh dịch vụ vận tải đường thủy Có rất nhiều tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khi xem xét, nghiên cứu và phân tích cụ thể tình hình thực tế mỗi lĩnh vực hoạt động có thể sẽ sử dụng các tiêu chí khác mà phạm vi đề tài chưa thể bao quát đầy đủ. Dưới đây là một số nhóm yếu tố chủ yếu thường được xem xét khi đánh giá về năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp sản xuất. * Thị trường và thị phần - Thị phần Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đó đang chiếm lĩnh. Công thức tính thị phần doanh nghiệp: Thị phần = Tổng doanh số bán hàng của doanh nghiệp / Tổng doanh số của thị trường.
Hoặc: Thị phần = Tổng số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp / Tổng sản phẩm tiêu thụ của thị trường. Ngoài ra thị phần tương đối còn được xoay quanh 2 công thức: Thị phần tương đối = Tổng doanh số thu được của doanh nghiệp / Tổng doanh số của đối thủ cạnh tranh thu được trong thị trường. Hoặc 9 Thị phần tương đối = Tổng sản phẩm bán ra của doanh nghiệp / Tổng sản phẩm bán ra của đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Nếu như ví dụ về thị phần tương đối lớn hơn 1, có nghĩa là doanh nghiệp đang có lợi thế cạnh tranh dẫn đầu thị phần tốt hơn đối thủ.
Thị phần tương đối nhỏ hơn 1, thì đối thủ cạnh tranh đang có lợi thế cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp của bạn. Còn khi thị phần tương đối bằng 1, điều này được hiểu lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp bằng lợi thế cạnh tranh của đối thủ trên thị trường. Thị phần thể hiện rõ các sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ của doanh nghiệp so với tổng sản phẩm tiêu thụ trên toàn thị trường. Để có thể chiếm lĩnh thị phần cao trước các đối thủ của mình, doanh nghiệp, công ty thường thực hiện các chiến lược marketing, kinh doanh cho riêng mình như: chính sách giá phù hợp, tung ra những chương trình khuyến mại, event….
Ngoài ra sau khi chiếm lĩnh thị phần lớn các doanh nghiệp cũng cần có cùng chiến lược bảo vệ thị phần. Thị phần có xu hướng tạo ra một thế giới quan tĩnh, nơi những người có thị phần cao thường quá tự tin, trong khi những doanh nghiệp có thị phần thấp lại dễ tuyệt vọng khi ra quyết định. Còn tỷ lệ tăng trưởng tạo ra sự tò mò bởi nó thể hiện tốc độ phát triển thị phần của doanh nghiệp trong mỗi phân khúc thị trường. Các nhà quản lý, lãnh đạo cấp cao có thể thường xuyên đặt câu hỏi: “Tại sao phân khúc này phát triển quá nhanh và tôi nên làm gì với nó?” Quan trọng hơn, thị phần tăng trưởng là cơ sở thúc đẩy phân bổ nguồn lực và phần thưởng lớn hơn theo cấp số nhân.
Dữ liệu cho thấy rằng các thương hiệu có tỷ lệ tăng trưởng cao hơn thị phần tồn tại trên tất cả các thương hiệu thuộc mọi quy mô, với vị trí đặc biệt dành cho thương hiệu từ 100 triệu đô la đến doanh thu 1 tỷ đô la. Thị phần là một trong những yếu tố quan trọng, tác động đến việc tăng quy mô cho hoạt động của doanh nghiệp và cải thiện lợi nhuận.