chương 1 có 2 tiết, chương 2 có 3 tiết. LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN HIỆN NAY 1. LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 1. Bản chất của lý luận chính trị Thực tiễn phát triển của lịch sử xã hội loài người ñã chứng minh khi xã hội phân chia thành giai cấp thì bất kỳ giai cấp, chính Đảng nào muốn giữ ñược ñịa vị thống trị xã hội thì trước hết phải nâng cao trình ñộ trí tuệ, trình ñộ lý luận cho giai cấp mình.
Lênin ñã khẳng ñịnh không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng, chỉ có chính Đảng nào có ñược lý luận tiên phong dẫn ñường thì Đảng ñó mới hoàn thành vai trò cách mạng tiên phong. Do ñó, khi nói ñến Đảng chính trị là ñồng thời nói ñến hệ thống lý luận – nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành ñộng của Đảng ấy. Từ ñiển Tiếng Việt ñịnh nghĩa: “Lý luận là hệ thống những tư tưởng ñược khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ ñạo thực tiễn. Lý luận là những kiến thức ñược khái quát và hệ thống hoá trong một lĩnh vực nào ñó”(19, tr544- 545) Từ ñiển triết học ñịnh nghĩa:“Lý luận là hệ thống những tri thức ñã ñược khái quát, tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và mối liên hệ cơ bản của hiện thực” (22, tr341) Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng ñịnh: “Tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” (14, tr497) 10 Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về lý luận nhưng tất cả các ñịnh nghĩa trên ñều thống nhất ở chỗ: Lý luận là sự khái quát những kinh nghiệm thực tiễn, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội ñược tích luỹ trong quá trình hoạt ñộng lịch sử của con người, phản ánh mối liên hệ bản chất, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong một lĩnh vực nào ñó của hiện thực khách quan và có vai trò hướng dẫn thực tiễn.
Trong mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn thì thực tiễn chính là yếu tố cơ sở, nền tảng quyết ñịnh sự hình thành lý luận. Mỗi bước phát triển của hoạt ñộng thực tiễn lại làm nảy sinh yêu cầu mới ñòi hỏi phải ñược nghiên cứu, khái quát ñể bổ sung vào lý luận những nhận thức mới. Nhờ ñó mà lý luận hoàn thiện và phát triển hơn. Ngược lại, trong mỗi hoạt ñộng thực tiễn thì lý luận làm nhiệm vụ hướng dẫn, mở ñường cho thực tiễn phát triển bằng những tổng thể tri thức nhất ñịnh.
Không có hoạt ñộng thực tiễn nào ñơn thuần là kinh nghiệm cụ thể, cũng như không có hệ thống tri thức nào không xuất phát từ sự tổng kết thực tiễn. Quá trình nhận thức của con người ñược thực hiện qua hai cấp ñộ là tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận. Tri thức kinh nghiệm là những tri thức do con người tiếp nhận trực tiếp từ việc quan sát sự vật, hiện tượng cụ thể, khách quan, những tri thức này còn mang tính rời rạc, bề ngoài, riêng lẻ, ngẫu nhiên chứ chưa mang tính chặt chẽ, sâu sắc, chưa ñi vào bản chất của sự vật, hiện tượng. Do ñó, phạm vi áp dụng cũng như tính hướng dẫn, chỉ ñạo của tri thức kinh nghiệm thường bị hạn chế trong phạm vi hẹp.
Khẳng ñịnh tính ñúng ñắn và khoa học của ñiều này Ph. Ănghen viết “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh ñược ñầy ñủ tính tất yếu”(13, tr718), cho nên biện chứng của quá trình nhận thức tất yếu vươn ñến một tri thức sâu sắc hơn, bản chất hơn ñó là tri thức lý luận. Tri thức lý luận là tri thức ở trình ñộ cao hơn so với tri thức kinh nghiệm. Bởi vì, tri thức lý luận có ñược là dựa trên cơ sở khái quát những tri 11 thức kinh nghiệm và ñược nâng lên ở trình ñộ cao hơn, sâu sắc hơn về bản chất và quy luật của sự vật.
Chính vì vậy, phạm vi áp dụng cũng như tính hướng dẫn, cải tạo tri thức lý luận sẽ rộng hơn so với tri thức kinh nghiệm. Tri thức lý luận làm cho hoạt ñộng của con người trở nên chủ ñộng, tự giác hơn, tránh ñược tình trạng mò mẫm, tự phát trong quá trình nhận thức, cũng như cải tạo tự nhiên, xã hội. Tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận tuy có khác nhau về trình ñộ nhưng giữa chúng lại có ñiểm chung là ñều phản ánh hiện thực khách quan và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong ñó, kinh nghiệm của thực tiễn có vai trò quan trọng ñối với lý luận, nó là cơ sở ñể tổng kết, khái quát thành lý luận.
Kinh nghiệm còn là căn cứ ñể con người xem xét, bổ sung, sửa ñổi và không ngừng phát triển lý luận vì lý luận sẽ càng chính xác, khoa học hơn nếu ñược xây dựng trên nhiều kinh nghiệm thực tiễn. Tri thức lý luận ñược hình thành từ sự tổng kết, khái quát kinh nghiệm nhưng lại phải thông qua quá trình trừu tượng hóa, khái quát hóa của tư duy cho nên bản thân nó lại chứa ñựng khả năng thiếu chính xác hoặc xa rời thực tế vì vậy ñể tri thức ấy trở thành khoa học thì nó phải luôn luôn ñược kiểm nghiệm qua thực tiễn nhằm bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn. Lý luận tuy có nguồn gốc từ thực tiễn nhưng sau khi ra ñời nó có tính ñộc lập tương ñối và có sự tác ñộng tích cực trở lại ñối với thực tiễn nhằm chỉ ñạo, dự báo tương lai phát triển sự vật, ñịnh hướng hoạt ñộng thực tiễn của con người. Như vậy, tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận là hai cấp ñộ khác nhau trong quá trình nhận thức của con người, trong ñó tri thức kinh nghiệm là căn cứ, là cơ sở ñể hình thành và phát triển của tri thức lý luận.
Do ñó, nếu tri thức kinh nghiệm càng ñược tích lũy nhiều thì càng có cơ sở vững chắc cho sự khái quát về lý luận. 12 Vì vậy, lý luận ñược hiểu theo nghĩa chung nhất là hệ thống những tri thức ñược khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực. Trên thực tế, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực khoa học cụ thể ñều có lý luận riêng và mỗi ngành, mỗi lĩnh vực hoạt ñộng cụ thể muốn phát triển ñược ñều phải bắt ñầu bằng việc phát triển lý luận. Cho ñến nay, nhân loại ñã có rất nhiều loại lý luận, ở mỗi ngành, mỗi lĩnh vực thì có một hệ thống lý luận ñặc thù ở luận văn này tác giả chỉ bàn ñến lý luận chính trị.
Khi ñề cập ñến khái niệm lý luận chính trị thì có rất nhiều quan ñiểm khác nhau, tùy theo cách tiếp cận cũng như việc bảo vệ lợi ích của giai cấp mình mà họ ñưa ra các quan ñiểm khác nhau. Theo quan ñiểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì chính trị là một hiện tượng lịch sử xuất hiện và tồn tại khi xã hội phân chia thành giai cấp và hình thành nhà nước. Chính trị giữ vai trò ñặc biệt trong ñời sống xã hội. Chính trị là lĩnh vực hoạt ñộng phức tạp, luôn thu hút các nhà tư tưởng ñi sâu vào nghiên cứu, khám phá, cố gắng làm sáng tỏ bản chất ñầy bí ẩn của chính trị.
Chính trị theo tiếng Hy lạp là “Politics”có nghĩa là những công việc liên quan ñến thành bang, những công việc quốc gia. Trong ñó việc cốt lõi nhất là tổ chức ra cơ quan cai trị (chính phủ) từ thế kỷ 16 trở ñi gọi là nhà nước. Từ thời cổ ñại các nhà tư tưởng ñã luôn cố gắng ñi tìm một hình thức nhà nước phù hợp ñể cai trị ñất nước có hiệu quả nhất, hợp lý nhất. Do ñó, “chính trị theo nguyên nghĩa của nó là những công việc của nhà nước là phạm vi hoạt ñộng gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn ñề giành và giữ chính quyền.
Hơn nữa, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp và ñấu tranh giai cấp. Lênin chỉ rõ “ chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế” có nghĩa là các tổ chức chính trị, các hình thức nhà nước thay ñổi và phát triển dựa trên cơ sở kinh tế của xã hội. Những quan hệ chính trị, những vấn ñề chính trị có ảnh hưởng trở lại 13 mạnh mẽ ñối với kinh tế hoặc là thúc ñẩy hoặc là cản trở sự phát triển kinh tế. Chính trị ñược biểu hiện bởi các tri thức ñược tích lũy trong quá trình lịch sử và những quan hệ kinh tế gắn với con người, với giai cấp, với dân tộc và với thời ñại.
Theo Lênin “Chính trị có tính logic khách quan của nó không phụ thuộc vào những dự tính cá nhân, của ñảng này hay ñảng khác” (8, tr246) chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng nó luôn tồn tại và gắn liền với ñiều kiện lịch sử cụ thể, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của một cá nhân hay giai cấp, chính ñảng nào. Và với tư cách là một thiết chế xã hội, chính trị luôn luôn tìm cách dẫn dắt xã hội theo tư tưởng của giai cấp nắm quyền thống trị. Như vậy, tùy theo cách tiếp cận mà có những quan niệm khác nhau về chính trị song theo nghĩa chung nhất thì chính trị là những vấn ñề về ñiều hành bộ máy nhà nước hoặc những hoạt ñộng của giai cấp, chính ñảng nhằm duy trì quyền ñiều hành nhà nước. Còn lý luận chính trị là hệ thống các quan ñiểm, chủ trương, ñường lối, chính sách của một chính ñảng, một giai cấp, nhằm giành, giữ, và thực thi quyền lực nhà nước.
Như vậy, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận chính trị của giai cấp vô sản, là hệ tư tưởng chân chính nhất, khoa học nhất của giai cấp vô sản và chính ñảng của nó - Đảng cộng sản.