Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả, năng suất cao hơn.
Ngày nay quản lý đã trở thành hoạt động phổ biến, nó diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội với mọi cấp độ khác nhau và liên quan đến mọi người. Ngay từ thời Khổng Tử, ông đã đề cao và xác định rõ vai trò cá nhân của người quản lý, ông cho rằng: người quản lý mà chính trực thì không cần phải bỏ tốn nhiều công sức, vẫn khiến người ta làm theo.Mác: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”. Có nhiều quan điểm tiếp cận, khái niệm quản lý có những cách hiểu khác nhau nhưng đứng trên góc độ hiệu quả công việc thì quản lý là sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nếu xét ở góc độ lãnh đạo thì quản lý là đưa ra những quyết định đúng; xét theo sự vận động thì quản lý là phân công, điều hành, phối hợp để cho tổ chức vận động tối ưu. Đối với nghĩa hoạt động quản lý được hiểu là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục đích đã đề ra.
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý: - Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người sao cho mục tiêu của cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội.8] 9 - Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp những hoạt động của họ.8] Các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức”. [4] Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.G: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta, sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội lẫn cá nhân” [1]. Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, H.Koontz đã đưa ra khái niệm “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm bảo đảm sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được những mục đích của nhóm. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [18].
10 Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy rằng khái niệm quản lý bao hàm một số nội dung: đó là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người lao động, hoạt động chung. Thực chất của hoạt động quản lý là xử lý các mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý; hoạt động quản lý phải phát huy được nhân tố con người với tư cách là bộ phận quan trọng nhất của khách thể quản lý. Quản lý là một nghề phức tạp nó đòi hỏi người quản lý muốn hoàn thành nhiệm vụ phải đạt đến trình độ nghệ thuật quản lý, nhưng nghệ thuật quản lý được hình thành trên cơ sở có bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức. Từ các cách tiếp cận khái niệm quản lý trên các sách, báo, có thể thống nhất “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Khái niệm quản lý có sự khác biệt với khái niệm lãnh đạo. Quản lý là quá trình tiến hành chỉnh lý và xử lý về nhân lực, vật lực và các tài nguyên khác nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định. Lãnh đạo là hoạt động quản lý của người lãnh đạo thống nhất điều khiển và hướng dẫn người bị quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định. Các chức năng quản lý Quản lý có 4 chức năng cơ bản, liên quan mật thiết với nhau đó là: chức năng kế hoạch hóa; tổ chức thực hiện kế hoạch; chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch.
- Chức năng kế hoạch hóa: là xác định rõ mục tiêu, mục đích đối với thành tựu trong tương lai của tổ chức và xác định những con đường, biện pháp, cách thức chủ yếu để đạt được mục tiêu, mục đích đó. 11 Chức năng kế hoạch hóa có 3 nội dung chủ yếu là: xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức; xác định và đảm bảo về nhân lực và các nguồn lực khác để đạt mục tiêu đã đề ra; quyết định xem những hoạt động nào cần thiết để đạt được mục tiêu đó. - Chức năng tổ chức: khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những ý tưởng đã thành hiện thực, từ đó hình thành một tổ chức. Xét về mặt quản lý thì chức năng tổ chức là một quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Nhờ tổ chức có hiệu quả mà người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn nhân lực và nguồn lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý, phụ thuộc vào việc huy động, sử dụng các nguồn lực. - Chức năng chỉ đạo: khi kế hoạch được hình thành, bộ máy cơ cấu đã được định hình, nhân sự đã được tuyển chọn thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức đó thực hiện kế hoạch. Một số nhà khoa học đã gọi tác động đó là quá trình chỉ đạo.
Chỉ đạo bao hàm sự liên kết, liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức. - Chức năng kiểm tra: kiểm tra là một chức năng cơ bản, quan trọng của quá trình quản lý. Kiểm tra chính là mối liên hệ ngược trong quá trình quản lý nhằm đánh giá việc thực hiện kế hoạch đồng thời phát hiện những sai lệch để điều chỉnh, uốn nắn hoặc bổ sung cho kế hoạch. Ngoài ra kiểm tra còn là nguồn động viên khích lệ, xử lý những sai phạm của các chức năng khác nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
12 Trong 4 chức năng, trong đó chức năng tổ chức là quan trọng nhất. Các chức năng quản lý vừa mang tính độc lập tương đối, vừa liên quan mật thiết với nhau, tạo thành một chu trình quản lý. Quản lý giáo dục 1. Khái niệm về quản lý giáo dục QLGD được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về QLGD, song nhìn một cách tổng thể có thể thống nhất về nội dung và bản chất của nó như sau: - QLGD là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng. - QLGD còn được hiểu là những hoạt động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục. Theo tác giả Nguyễn Gia Quý: “QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân”.12] Ở cấp độ vi mô, tác giả Trần Kiểm đã nêu khái niệm QLGD như sau: QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực 13 lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [23]. Trong bài giảng “Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục” tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội” [3].
Tác giả Phạm Viết Vượng lại xác định: “Mục tiêu cuối cùng của QLGD là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội” [39]. Tóm lại: QLGD có thể hiểu một cách chung nhất đó là những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức điều khiển hoạt động của khách thể quản lý, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra.