Quản lý quá trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị theo tiếp cận năng lực tại học viện chính trị quốc gia hồ chí minh

Nghiên cứu quản lý đào tạo cao cấp lý luận chính trị theo tiếp cận năng lực tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2024

339
2
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Quản lý Đào tạo CCLLCT Tiếp cận năng lực

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trở thành yêu cầu cấp thiết. Đào tạo Cao cấp lý luận chính trị (CCLLCT) đóng vai trò then chốt trong việc trang bị cho cán bộ những kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cần thiết để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh là cơ sở đào tạo CCLLCT hàng đầu của Việt Nam, có trách nhiệm quan trọng trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo. Việc quản lý đào tạo cao cấp lý luận chính trị theo tiếp cận năng lực là một hướng đi đúng đắn, nhằm đảm bảo học viên sau khi tốt nghiệp có thể vận dụng hiệu quả kiến thức vào thực tiễn công tác. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trước khi nhận nhiệm vụ được coi là một quy định bắt buộc ở các nước trên thế giới. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII nhấn mạnh “Thực hiện nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị bắt buộc và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ” [12].

1.1. Vai trò của Đào tạo CCLLCT trong bối cảnh mới

Đào tạo CCLLCT không chỉ trang bị lý luận mà còn phải phát triển năng lực thực tiễn cho cán bộ, giúp họ giải quyết các vấn đề phức tạp trong công việc và cuộc sống. Do đó, việc tiếp cận năng lực trong đào tạo lý luận chính trị cần được chú trọng. Chương trình đào tạo cần được thiết kế dựa trên khung năng lực chuẩn, xác định rõ các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà học viên cần đạt được sau khi hoàn thành khóa học. Việc quản lý chất lượng đào tạo lý luận chính trị cần được thực hiện một cách toàn diện, từ khâu tuyển sinh đến đánh giá kết quả học tập.

1.2. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Trung tâm đào tạo

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh có vai trò quan trọng trong việc đào tạo CCLLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý. Học viện cần tiếp tục đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, tăng cường tính thực tiễn và khả năng ứng dụng của kiến thức. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm thực tiễn và tâm huyết với nghề. Các hoạt động quản lý đào tạo của Học viện luôn được đổi mới để phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Việc quản lý hoạt động giảng dạy và học tập trong đào tạo CCLLCT của Ban Giám đốc Học viện và các nhà quản lý rất đặc thù do đối tượng học viên rất giàu kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn.

II. Thách thức quản lý Đào tạo CCLLCT Cần giải pháp nào

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, công tác quản lý đào tạo cao cấp lý luận chính trị hiện nay vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Chương trình đào tạo chưa thực sự gắn kết với thực tiễn, phương pháp giảng dạy còn nặng về lý thuyết, ít chú trọng đến phát triển năng lực thực hành cho học viên. Việc đánh giá năng lực học viên còn mang tính hình thức, chưa phản ánh được đầy đủ quá trình học tập và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo. Thực tế nhiều năm qua, nội dung đào tạo CCLLCT vẫn còn tình trạng ít cập nhật, bổ sung kiến thức mới, hiện đại và kỹ năng cần thiết đối với cán bộ LĐQL; còn có những thành tố nội dung trùng lặp, chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực hoạt động thực tiễn, năng lực LĐQL của học viên [35].

2.1. Chương trình đào tạo còn thiếu tính thực tiễn

Nội dung đào tạo chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của công tác lãnh đạo, quản lý. Chương trình còn nặng về lý thuyết, ít chú trọng đến việc trang bị cho học viên các kỹ năng thực hành, kỹ năng giải quyết vấn đề. Sự liên kết giữa các môn học còn rời rạc, chưa tạo thành một hệ thống kiến thức thống nhất. Các yếu tố như quản lý mục tiêu đào tạo, quản lý tuyển sinh, quản lý nội dung chương trình, quản lý giảng viên, quản lý học viên, quản lý kiểm tra đánh giá… vẫn còn nhiều không gian cần cải thiện, nhằm đạt được mục tiêu năng lực cho học viên tham gia đào tạo CCLLCT.

2.2. Đánh giá năng lực học viên Cần đổi mới ra sao

Phương pháp đánh giá năng lực học viên còn mang tính hình thức, chủ yếu dựa vào kết quả thi cử. Chưa có các công cụ và phương pháp đánh giá năng lực toàn diện, đánh giá được khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Kết quả đánh giá chưa được sử dụng để cải thiện chương trình và phương pháp giảng dạy. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo chưa được công bố.

III. Cách phát triển Chương trình CCLLCT theo Tiếp cận năng lực

Để nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo cao cấp lý luận chính trị theo tiếp cận năng lực, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Đầu tiên, cần xây dựng khung năng lực cán bộ lãnh đạo rõ ràng, cụ thể, làm cơ sở để thiết kế chương trình đào tạo. Tiếp theo, cần đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, tăng cường tính tương tác, tính thực tiễn và khả năng ứng dụng của kiến thức. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống đánh giá năng lực toàn diện, khách quan, phản ánh được đầy đủ quá trình học tập và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Các hoạt động quản lý đào tạo như quản lý mục tiêu đào tạo, quản lý tuyển sinh, quản lý nội dung chương trình, quản lý giảng viên, quản lý học viên, quản lý kiểm tra đánh giá… cần được đổi mới.

3.1. Xây dựng Khung năng lực Nền tảng cho đào tạo CCLLCT

Khung năng lực cần được xây dựng dựa trên yêu cầu của thực tiễn công tác lãnh đạo, quản lý, phù hợp với đặc điểm của từng vị trí, chức danh. Khung năng lực cần xác định rõ các kiến thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất cần thiết cho cán bộ. Khung năng lực cần được công khai, minh bạch, làm cơ sở để đánh giá, tuyển dụng, đào tạo và bổ nhiệm cán bộ. Chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị theo tiếp cận năng lực có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và phát triển đất nước.

3.2. Đổi mới Phương pháp giảng dạy Hướng tới tính tương tác

Cần tăng cường sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, khuyến khích học viên tham gia vào quá trình học tập. Cần tạo điều kiện để học viên trao đổi kinh nghiệm, thảo luận các vấn đề thực tiễn. Cần sử dụng các công cụ hỗ trợ giảng dạy hiện đại, tăng cường tính trực quan, sinh động của bài giảng. Cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong đào tạo.

3.3. Hoàn thiện hệ thống Đánh giá năng lực Toàn diện khách quan

Hệ thống đánh giá năng lực cần bao gồm nhiều hình thức đánh giá khác nhau, như thi viết, thi vấn đáp, làm bài tập tình huống, thực hiện dự án. Cần có các tiêu chí đánh giá rõ ràng, cụ thể, khách quan. Cần sử dụng kết quả đánh giá để cải thiện chương trình và phương pháp giảng dạy, cũng như để đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo. Cần kiểm tra đánh giá một cách đa dạng hoá.

IV. Kinh nghiệm quản lý Đổi mới Đào tạo CCLLCT hiện nay

Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế và trong nước là cần thiết để đổi mới quản lý đào tạo cao cấp lý luận chính trị. Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục tiên tiến, các nước có hệ thống chính trị tương đồng với Việt Nam. Học hỏi các mô hình đào tạo cán bộ cấp cao hiệu quả, các phương pháp đánh giá chất lượng đào tạo tiên tiến. Đồng thời, cần tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam, phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những hạn chế còn tồn tại. Đội ngũ cán bộ có vai trò chủ chốt trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nên lập trường tư tưởng, phẩm chất đạo đức và năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ này có vai trò, ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và việc thực thi hiệu quả các nhiệm vụ trọng yếu của tổ chức, của địa phương và của đất nước.

4.1. Học hỏi kinh nghiệm quốc tế Đào tạo cán bộ lãnh đạo

Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong việc xây dựng khung năng lực, thiết kế chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá năng lực. Chú trọng đến kinh nghiệm của các nước có hệ thống chính trị tương đồng với Việt Nam. Cần chú trọng đến kinh nghiệm quản lý đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý của các tổ chức chính trị của các nước.

4.2. Tổng kết kinh nghiệm trong nước Phát huy thành tựu

Phát huy những thành tựu đã đạt được trong công tác đào tạo lý luận chính trị. Khắc phục những hạn chế còn tồn tại, như chương trình đào tạo chưa gắn kết với thực tiễn, phương pháp giảng dạy còn nặng về lý thuyết. Cần phân tích SWOT đối với quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh theo tiếp cận năng lực.

V. Giải pháp Hoàn thiện quản lý Đào tạo CCLLCT tại Học viện

Để quản lý đào tạo cao cấp lý luận chính trị hiệu quả, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị liên quan. Cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác đào tạo cán bộ. Cần phát huy vai trò của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trong việc xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình, bồi dưỡng giảng viên. Đồng thời, cần huy động sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, các cán bộ lãnh đạo, quản lý có kinh nghiệm vào quá trình đào tạo. Phân cấp quản lý quá trình đào tạo Cao cấp lý luận chính trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

5.1. Tăng cường lãnh đạo chỉ đạo Yếu tố then chốt

Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo cán bộ, coi đây là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài. Cần có các chủ trương, chính sách cụ thể để khuyến khích, tạo điều kiện cho công tác đào tạo cán bộ. Cần tổ chức hội nghị, hội thảo để trao đổi kinh nghiệm, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác đào tạo cán bộ.

5.2. Phát huy vai trò của Học viện Xây dựng chương trình

Học viện cần chủ động xây dựng chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Học viện cần tăng cường bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ giảng viên. Học viện cần đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động.

VI. Tương lai Đào tạo CCLLCT Hướng đến Chất lượng Hiệu quả

Trong bối cảnh mới, đào tạo cao cấp lý luận chính trị cần hướng đến chất lượng và hiệu quả. Chương trình đào tạo cần được thiết kế theo tiếp cận năng lực, đảm bảo học viên sau khi tốt nghiệp có thể vận dụng hiệu quả kiến thức vào thực tiễn công tác. Cần xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đào tạo khách quan, minh bạch, làm cơ sở để cải thiện chương trình và phương pháp giảng dạy. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo cán bộ, học hỏi kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục tiên tiến. Mục tiêu đào tạo lý luận chính trị cần có sự liên kết với nhau để đạt được hiệu quả tốt nhất.

6.1. Đảm bảo chất lượng đào tạo Tiêu chí nào

Chất lượng đào tạo cần được đánh giá dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, như chất lượng chương trình, chất lượng giảng viên, chất lượng học viên, chất lượng cơ sở vật chất. Cần có các công cụ và phương pháp đánh giá chất lượng đào tạo khách quan, minh bạch. Cần sử dụng kết quả đánh giá để cải thiện chất lượng đào tạo. Khung năng lực đào tạo Cao cấp lý luận chính trị.

6.2. Hợp tác quốc tế Chia sẻ kinh nghiệm nâng cao chất lượng

Tăng cường hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu quốc tế trong lĩnh vực đào tạo cán bộ. Tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế để trao đổi kinh nghiệm. Gửi giảng viên và học viên đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài. Mối quan hệ giữa các giải pháp.

15/05/2025
Quản lý quá trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị theo tiếp cận năng lực tại học viện chính trị quốc gia hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC TẠI HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về khung năng lực và đào tạo lãnh đạo, quản lý của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị theo tiếp cận năng lực 1. Nghiên cứu về khung năng lực lãnh đạo, quản lý của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị Về khung năng lực LĐQL, David.McClelland là người đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu này.

Năm 1973, ông đề xuất khung năng lực của một nhà lãnh đạo bao gồm nhóm năng lực cốt lõi (core competencies), nhóm năng lực lãnh đạo (leadership competencies), nhóm năng lực chuyên môn (professional competencies). Mỗi nhóm năng lực lại bao gồm những năng lực chi tiết [70]. Khung năng lực của McClelland được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi cho đến tận ngày nay. Trong các nghiên cứu ở Việt Nam, các học giả cũng đưa ra các đề xuất về mô hình khung năng lực của người LĐQL.

Mai Thanh Lan, Tạ Huy Hùng (2014) đề xuất khung năng lực LĐQL của nhà quản trị cấp cao trong doanh nghiệp gồm 03 nhóm năng lực chính: nhóm năng lực cá nhân (gồm 11 năng lực cụ thể); nhóm năng lực quản trị (gồm 10 năng lực cụ thể) và nhóm phẩm chất quan trọng (gồm 06 năng lực cụ thể) [71]. Ngô Quý Nhâm (2015) đề xuất một mô hình khung năng lực dưới góc nhìn của quản trị nhân sự, trong đó khung năng lực bao gồm 4 tầng năng lực. Tầng dưới cùng là năng lực cá nhân nền tảng, tầng thứ hai là năng lực làm việc hiệu quả, tầng thứ ba là năng lực liên quan đến ngành, tầng trên cùng là hiệu quả công việc cá nhân [85]. Phạm Đức Chính (2019) thì cho rằng, năng lực của đội ngũ lãnh đạo, quản lý phải bao gồm 2 nhóm chính, thứ nhất là nhóm năng lực lãnh đạo, tổ chức, quản lý mang tính chiến lược - đây là nhóm cần những kỹ năng tư duy chiến lược và tham mưu hoạch định chính sách; thứ hai là nhóm cần các kiến thức và kỹ năng nhằm nâng cao năng lực thực hành để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tham mưu, quản lý, điều hành và thực thi công vụ [34].

11 Nghiên cứu về khung năng lực LĐQL của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, Shen Chien-chunh (2004) trong “Nghiên cứu về khung năng lực công chức lãnh đạo, quản lý của Đài Loan”, chia nhóm công chức tại Đài Loan thành 03 nhóm: cơ sở, trung cấp, cao cấp. Nghiên cứu đề xuất khung năng lực của các công chức LĐQL cấp cao gồm 06 nhóm năng lực: tầm nhìn, phân tích sách lược, xử lý nguy cơ, lãnh đạo đội nhóm, hợp tác đa lĩnh vực, quản lý hiệu suất. Nghiên cứu đề xuất khung năng lực của các công chức LĐQL cấp trung gồm: phục vụ khách hàng, quản lý và vận dụng tri thức, quản lý quy trình, giao tiếp và phân tích xung đột, chia sẻ kinh nghiệm và hướng dẫn đội nhóm, xác định và thực hiện mục tiêu [115]. Mau (2015) với “Leadershop competencies for a glabal public service”, đã phân tích, tổng hợp khung năng lực của đội ngũ LĐQL khu vực công của một số nước trên thế giới.

Khung năng lực lãnh đạo điều hành cấp cao của Úc năm 2004 gồm 5 nhóm năng lực cốt lõi với 22 năng lực chi tiết; Khung năng lực cốt lõi của Hoa kỳ năm 2006 gồm 5 nhóm năng lực chính với 28 năng lực cụ thể; trong đó có 6 năng lực được coi là năng lực cơ bản. Khung mô hình những năng lực lãnh đạo chính năm 2004 của Canada gồm 4 nhóm năng lực cốt lõi. Khung năng lực công chức năm 2012 của Vương quốc Anh gồm 3 nhóm năng lực chính và 10 năng lực chi tiết. Khung năng lực lãnh đạo của Nam Phi năm 2011 gồm 5 nhóm năng lực cốt lõi với 5 nhóm năng lực quy trình.

Khung năng lực điều hành năm 2009 của Niu Di lân lại đưa ra 7 nhóm năng lực chính. Khung năng lực của nhà lãnh đạo, quản lý cấp cao năm 2000 của Hà Lan đưa lại gồm 7 nhóm năng lực với 4 năng lực cụ thể cho mỗi nhóm [116]. Nghiên cứu này cũng phân định một khung năng lực chung cho công chức LĐQL khu vực công mang tính toàn cầu của Auluck và Lenvin (2009), và chỉ ra những khó khăn cho việc đề xuất một khung năng lực chung này. Tại Việt Nam, Lê Quân và cộng sự (2016) đã đề xuất xây dựng khung năng lực LĐQL khu vực hành chính công Việt Nam bao gồm 6 nhóm năng lực: nhóm năng lực đạo đức công vụ, nhóm năng lực am hiểu địa phương, nhóm năng lực chuyên môn, nhóm năng lực quản lý điều hành, nhóm năng lực quản trị nhân sự, nhóm năng lực quản trị bản thân [91 - Dẫn theo Lê Quân].

Lê Ngọc Hùng (2022), với quan điểm coi nhà trường là hệ thống mở tương tác với các môi trường xunh quanh, và xác định hiệu quả đầu ra của đào tạo, bồi dưỡng được đánh giá theo hệ thống năng lực, 12 phẩm chất của cán bộ sau đào tạo, bồi dưỡng. Tác giả đã đưa ra khung tiêu chí đánh giá cán bộ sau đào tạo, bồi dưỡng gồm 03 nhóm: (i) nhóm nội dung các tiêu chuẩn, tiêu chí theo quy định hiện hành; (ii) nhóm nội dung đặc trưng theo chức danh cán bộ cần được cụ thể hóa theo hệ thống các phẩm chất, năng lực LĐQL, quản trị, hành chính; (iii) nhóm liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng gồm các phương án gợi mở các nhiệm vụ, giải pháp đổi mới đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường và học tập, rèn luyện của cán bộ với tư cách học viên của nhà trường [61]. Nghiên cứu về đào tạo lãnh đạo, quản lý của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị theo tiếp cận năng lực Trên cơ sở xác định được năng lực có thể cải thiện thông qua đào tạo, bồi dưỡng, các học giả trên thế giới và Việt Nam cũng đã nghiên cứu lý luận về đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho người học. Chuyển đổi từ chương trình đào tạo nặng về lý thuyết sang chương trình đào tạo thiên về ứng dụng - thực hành dựa trên năng lực đã và đang là một xu thế phát triển trong giáo dục đào tạo của các nước trên thế giới.

Boyatzis và các đồng sự đã tổng kết các nhược điểm của phương pháp đào tạo lý thuyết cũ [112]. Kế thừa nhận định của Boyatis, các học giả Rausch, Sherman, Washbush, Paprock tổng kết các đặc tính cơ bản của quá trình đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực bao gồm: (1) Tiếp cận năng lực dựa trên triết lý người học là trung tâm; (2) Tiếp cận năng lực thực hiện việc đáp ứng các đòi hỏi của chính sách; (3) Tiếp cận năng lực là định hướng cuộc sống thật; (4) Tiếp cận năng lực linh hoạt và năng động. Theo đó, Paprock, McLagan, Kerka cho rằng những đặc tính cơ bản này dẫn tới những ưu thế của quá trình đào tạo theo hướng tiếp cận dựa trên năng lực. Do những đặc tính và ưu điểm của tiếp cận dựa trên năng lực, các mô hình năng lực và những tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp được xác định và sử dụng như là những công cụ cho việc phát triển rất nhiều chương trình giáo dục, đào tạo và phát triển khác nhau trên toàn thế giới.

Về quá trình đào tạo theo tiếp cận năng lực, nhiều tác giả như: Nguyễn Thị Mỹ Lộc [73], Nguyễn Lộc, Trịnh Văn Minh, Nguyễn Đức Chính [32], Trần Hữu Hoan [33], Trần Khánh Đức [47]. đã chỉ ra đặc điểm khác biệt về giữa 13 mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp kiểm tra đánh giá giữa đào tạo theo nội dung và đào tạo theo năng lực. Ở Việt Nam, đã có tương đối nhiều nghiên cứu gần đây đề cập tới vấn đề đào tạo, quản lý LĐQL của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị theo tiếp cận năng lực. Có thể kể đến một số nghiên cứu như: Hoàng Mai (2017) cho rằng, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cần đặt trong bối cảnh mới, đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải thật sự đổi mới và phải là công cụ phát triển năng lực cho cán bộ, công chức.

Theo đó, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cần được đổi mới cả về nội dung chương trình, phương thức tổ chức hoạt động đào tạo bồi dưỡng để đảm bảo năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức được thực sự cải thiện, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong giai đoạn mới [76, tr. Nguyễn Thị Hồng Hải (2019) đưa ra quan điểm, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo năng lực là một xu hướng mới, đặt trọng tâm vào năng lực của cán bộ, công chức. Có thể coi đây là phương thức hữu hiệu để phát triển tài năng, gia tăng động lực làm việc và khả năng đáp ứng được những thách thức do môi trường mang lại của đội ngũ cán bộ, công chức ở nhiều nước trên thế giới. Nguyễn Hữu Khiển (2019) cho học tập là công việc gắn với hoạt động công vụ của cán bộ công chức.

Tác giả cũng nhấn mạnh, đối với người học là công chức, cần thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng theo quy định trên cơ sở nhu cầu công việc, để kể cả khi luân chuyển, thay đổi vị trí trong quá trình công tác cũng không bị ảnh hưởng [68]. Phạm Đức Chính (2019) cho rằng, trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, kinh tế tri thức phát triển nhanh chóng, công tác cán bộ ở nước ta đòi hỏi một chiến lược cán bộ mang tính thực tiễn sâu sắc nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ LĐQL có năng lực toàn diện, thực sự phù hợp với thời kỳ mới, đáp ứng được yêu cầu cấp thiết về nhân sự quản lý. Thực hiện đổi mới nội dung về công tác đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí chức danh nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ LĐQL có năng lực, đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động quản lý của mình [34]. 14 Như vậy, các nghiên cứu về khung năng lực cán bộ LĐQL của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị đã khá thống nhất về nội hàm khái niệm năng lực với các thành phần của năng lực, bước đầu phác họa được khung năng lực chung của một người LĐQL để thực hiện các nhiệm vụ trong một vị trí, một công việc hay một ngành nghề trong hệ thống chính trị.

Qua đó có thể nhận thấy rằng, một bộ khung năng lực cán bộ LĐQL của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị cơ bản gồm các phẩm chất cá nhân, năng lực lãnh đạo, năng lực chuyên môn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tóm tắt về Quản lý Đào tạo Cao cấp Lý luận Chính trị theo Tiếp cận Năng lực tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Bài viết này tập trung vào việc đổi mới quản lý đào tạo cao cấp lý luận chính trị tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tiếp cận theo hướng phát triển năng lực cho học viên. Điều này có nghĩa là chương trình đào tạo không chỉ trang bị kiến thức mà còn chú trọng rèn luyện kỹ năng, thái độ để học viên có thể vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác một cách hiệu quả. Lợi ích cho người đọc là hiểu rõ hơn về cách thức đào tạo cán bộ cao cấp hiện nay, cũng như những yêu cầu mới đặt ra đối với người học trong bối cảnh hiện tại.

Để hiểu sâu hơn về việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện trong tình hình hiện nay. Tài liệu này sẽ cung cấp một góc nhìn cụ thể hơn về việc áp dụng lý luận chính trị vào thực tiễn ở cấp huyện, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.