Chương 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu chung về cao su, cao su blend và cao su nanocompozit Cao su là một loại vật liệu sau khi bị kéo căng do tác dụng của ngoại lực, có khả năng nhanh chóng trở về trạng thái ban đầu sau khi giải phóng ngoại lực. Trong khuôn khổ luận án sẽ đề cập tới các nghiên cứu một số vật liệu trên cơ sở cao su thiên nhiên (CSTN), cao su cloropren (CR), cao su acrylonitril-butadien hay cao su nitril (NBR) và cao su blend (CSTN/CR; CSTN/NBR). Cao su thiên nhiên và một số cao su tổng hợp 1.
Cao su thiên nhiên Cao su thiên nhiên (CSTN) là một polyme thiên nhiên được tách ra từ cây cao su (tên khoa học là Hevea Brasiliensis), thành phần chủ yếu là cis 1, 4- polyisopren. CSTN lần đầu tiên được khâu mạch bằng lưu huỳnh thành mạng không gian đàn hồi cao bởi Charles Goodyear (1837). Cho đến nay, khâu mạch bằng lưu huỳnh vẫn là phương pháp chính, ngoài ra còn có thể lưu hóa bằng dicumylperoxit,… (CSTN): Tg ≈ -70oC CH3 H CH3 H C C CH2 CH2 C C H2C CH2 C C CH2 CH2 CH3 H Từ các kết quả phân tích cho thấy, đây là polyisopren mà các đại phân tử của nó được tạo thành từ các mắt xích dạng cis liên kết với nhau ở vị trí 1, 4 (chiếm khoảng 98%). Ngoài ra còn có khoảng 2% các mắt xích liên kết với nhau tạo thành mạch đại phân tử ở vị trí 1, 2 hoặc 3, 4.
Khối lượng phân tử trung bình của CSTN khoảng 1,3×106(đvC). Mức độ dao động khối lượng phân tử của CSTN từ 1. Tính năng cơ lý, kỹ thuật của CSTN phụ thuộc nhiều vào cấu tạo hóa học cũng như khối lượng phân tử của nó. CSTN có độ đàn hồi, độ bền kéo và bền xé rách cao.
Nhưng CSTN không bền với ánh sáng mặt trời, oxy và ozon, phân huỷ nhiệt, dầu và các loại nhiên liệu [1]. CSTN dạng latex là một chất lỏng phức hợp chứa: cao su, nước, muối khoáng, axit, gluxit, hợp chất phenolic, ankaloit, chất màu, enzym, lipit. Theo tính toán thì có 90% hạt latex có đường kính dưới 0,5μm. Tỷ trọng của latex khoảng 0,97g/cm3, kết quả đó được tính từ tỷ trọng của cao su là 0,92 g/cm3 và của serum là 1,02 g/cm3.
Độ nhớt latex tươi có 35% cao su là từ 12-15 cP. Sức căng mặt ngoài 4 của latex từ 30-40% cao su là khoảng 38-40 dyn/cm, trong khi sức căng mặt ngoài của nước tinh khiết là 73 dyn/cm. Ngoài ra hợp chất lipit và dẫn xuất là nguyên nhân ảnh hưởng mạnh đến sức căng mặt ngoài của latex [1]. Ở Việt Nam, amoniac là chất được dùng phổ biến trong quá trình chế biến latex, chủ yếu nó có tác dụng sát trùng và tạo môi trường kiềm làm cho latex không chịu ảnh hưởng bởi điểm đẳng điện của nó.
Mặt khác amoniac cũng tác dụng với các thành phần phi cao su trong latex, chẳng hạn nó có xu hướng gây ra sự hydraxit hóa khởi đầu ở protein và lipit. Điểm đẳng điện của protein latex tương đương pH= 4,7. Với các giá trị pH> 4,7 dạng tồn tại H2N-Pr-COO- chiếm ưu thế và các hạt mang điện tích âm. Ngược lại khi pH< 4,7 thì dạng +NH3-Pr-COOH chiếm ưu thế và hạt latex mang điện tích dương: Cao su thiên nhiên là vật liệu quen thuộc được ứng dụng đa ngành trên thế giới.
Trong đó các ứng dụng phổ biến nhất của CSTN phải kể đến: Giao thông, y tế, xây dựng, thủy lợi, thủy điện, đồ gia dụng… 1. Cao su cloropren Cao su cloropren H H Cl H (Polycloropren - CR): Tg ≈ -50oC C C C C H H n Cao su cloropren (CR) hay neopren là một trong những cao su tổng hợp đầu tiên được sản xuất. Chúng có tính chất cơ học tuyệt vời, có thể hơn cả CSTN bởi quá trình kết tinh khi kéo. Tuy nhiên, quá trình kết tinh có thể không tốt nếu vật liệu ở trong môi trường nhiệt độ thấp trong thời gian kéo dài.
Do bản chất phân cực tự nhiên (gây ra bởi nguyên tử Cl có độ âm điện lớn), CR khá bền dầu mỡ. Chúng cũng có khả năng chống cháy và bền với ozon và thời tiết nên được ứng dụng làm ống dẫn nhiên liệu, vỏ cáp, ủng bảo vệ, đệm gối cầu, chất tạo màng, keo dán… [1]. Cao su acrylonitril-butadien Cao su acrylonitril-butadien hay cao su nitril (NBR) - một copolyme với 20- 50% acrylonitril được sản xuất với mục đích chính là bền dầu mỡ, dung môi (do có nhóm CN phân cực). Cao su acrylonitril-butadien (NBR): Tg ≈ -56 ÷ -22 NBR có độ bền già hoá khá tốt, bền mài mòn cao.
Tuy nhiên, độ bền với môi trường ozon và thời tiết không được tốt. Nếu cao su nitril có thêm 2-10% nhóm COOH sẽ làm tăng độ bền ozon, độ linh động ở nhiệt độ thấp, độ bền mài mòn, độ bền thời tiết. Vật liệu này được gọi là cao su nitril carboxyl hoá. NBR và PVC có thể trộn hợp tạo thành vật liệu tổ hợp đồng thể hay dị thể (polyme alloy).
Với 30% PVC có thể tăng độ bền ozon và khả năng dễ dàng gia công, tăng khả năng chống cháy. Ứng dụng: Với những đặc tính như vậy vật liệu này thường được sử dụng để chế tạo: ống dẫn nhiên liệu, đệm, băng tải, dây curoa, lô máy in. Cao su blend Các loại cao su tổng hợp đã khắc phục được những hạn chế của CSTN như có khả năng bền dầu mỡ (như NBR), bền môi trường (như CR, cao su etylen propylen dien đồng trùng hợp-EPDM,…) hoặc có khả năng cách điện cao (như cao su silicon), song giá thành của nó lại cao. Mặt khác nhiều loại cao su tổng hợp có tính chất cơ học thấp hơn nhiều so với CSTN như các loại cao su EPDM, silicon,… Chính vì vậy, để phối hợp những ưu điểm của các loại cao su tổng hợp với nhau hay với CSTN, người ta phối trộn các loại cao su lại với nhau tạo thành vật liệu cao su blend.
Hancock đã tạo ra blend của CSTN với gutapertra, đến năm 1942 E. Badum đã chế tạo blend của NBR với polyvinyl cloride (PVC),… Bắt đầu từ nửa cuối của thế kỷ 20 và đặc biệt từ khoảng những năm 70 của thế kỷ XX trở lại đây, việc chế tạo và ứng dụng các loại cao su blend từ CSTN, cao su tổng hợp hoặc nhựa nhiệt dẻo với mức tăng trưởng mỗi năm trên 10% [3]. Như vậy, có thể hiểu rằng: Vật liệu cao su blend là vật liệu có tính chất như cao su được cấu thành từ hai hoặc 6 nhiều cao su hoặc cao su với nhựa nhiệt dẻo. Thông qua đó có thể tối ưu hóa về mặt tính năng cơ lý và giá thành cho mục đích sử dụng nhất định.
Trong thời gian gần đây, nhiều loại cao su blend tính năng cao trên cơ sở CSTN và cao su tổng hợp được tập trung nghiên cứu và đã có sản phẩm được thương mại hóa như: Geolast (blend của NBR với EPDM) có khả năng bền nhiệt, bền dầu do hãng Monsanto Polym. Prod sản xuất; JSR NV (blend của NBR với PVC) có khả năng bền dầu, hóa chất và nhiệt độ thấp do hãng Japan Synth. Rubb sản xuất hoặc Royalene (blend của cao su EPDM với nhựa polypropylen -PP) có khả năng bền va đập, bền thời tiết sử dụng trong kỹ nghệ ô tô do hãng Uniroyal Chem sản xuất [1],. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu và ứng dụng vật liệu blend chỉ được quan tâm từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước.
Trung tâm nghiên cứu Vật liệu Polyme (Đại học Bách khoa Hà Nội) đã sử dụng blend CSTN/CR để chế tạo các khe co dãn, gối cầu đường bộ cốt bản thép; Viện Kỹ thuật Nhiệt đới sử dụng blend của NBR với PVC để chế tạo tấm đệm ray đường sắt; Viện Hóa học Vật liệu (Viện KHKT & CNQS) đã sử dụng blend của CSTN epoxy hóa (ENR) với nhựa PVC chế tạo và ứng dụng làm các loại gioăng, phớt chịu dầu. Viện Hóa học phối hợp với một số đơn vị nghiên cứu, trường Đại học và các đơn vị sản xuất khác đã chế tạo và ứng dụng có hiệu quả các loại cao su blend trên cơ sở CSTN với polyetylen tỷ trọng thấp (CSTN/LDPE), tạo ra vật liệu cao su blend có khả năng bền môi trường hơn hẳn so với CSTN, phương pháp gia công đơn giản với năng suất cao và được ứng dụng để chế tạo các loại đệm chống va đập tàu biển cũng như các loại giầy đế nhẹ chất lượng cao phục vụ xuất khẩu. Cao su blend của CSTN với NBR có khả năng bền dầu mỡ, tính chất cơ học cao, giá thành hạ được ứng dụng chế tạo các sản phẩm cao su kỹ thuật và dân dụng có yêu cầu bền dầu mỡ (các đệm chống va tàu thuyền cho các cảng dầu khí, giầy, ủng bền dầu mỡ,…). Các blend của CSTN/SBR, CSTN/CR, CSTN/EPDM,… bền mài mòn, bền môi trường, thời tiết cao, đáp ứng yêu cầu chế tạo các sản phẩm cao su có yêu cầu bền nhiệt, bền thời tiết,… Những kết quả nghiên cứu triển khai kể trên đã được công bố với hàng chục công trình trên các tạp chí và hội nghị khoa học chuyên ngành trong nước và quốc tế [1].
Cao su nanocompozit Cao su nanocompozit gồm pha nền (cao su, cao su blend) và pha gia cường ở các dạng (hạt, vảy, sợi, ống.) có kích thước cỡ nanomet. Như vậy có thể hiểu, vật liệu cao su nanocompozit là vật liệu có nền là cao su hoặc cao su blend và cốt là các 7 hạt hay sợi khoáng thiên nhiên hoặc tổng hợp có ít nhất một trong 3 chiều có kích thước trong khoảng 1-100 nm (kích cỡ nanomet). Cũng giống như vật liệu polyme nanocompozit nói chung, vật liệu cao su nanocompozit kết hợp được cả ưu điểm của vật liệu vô cơ (như độ cứng, bền nhiệt, bền cơ học…) và ưu điểm của polyme hữu cơ (như tính linh động, mềm dẻo, là chất điện môi và khả năng dễ gia công…). Một đặc tính riêng biệt của vật liệu cao su nanocompozit đó là kích thước nhỏ của chất gia cường dẫn tới sự gia tăng mạnh mẽ diện tích bề mặt chung khi so sánh với các compozit truyền thống.
Chính vì vậy, tính chất cơ lý của vật liệu tăng lên mạnh mẽ [2]. Tình hình nghiên cứu chế tạo, ứng dụng vật liệu cao su nanocompozit trên thế giới và Việt Nam Vấn đề phân tán được đồng đều các chất gia cường nano trong nền cao su có tính chất quyết định đến tính chất của vật liệu thu được. Vật liệu gia cường phân tán càng tốt và càng đồng đều trong nền thì vật liệu thu được có tính chất càng cao, đồng thời tương tác trên bề mặt phân chia pha càng mạnh thì tính chất của vật liệu càng tốt.