Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Quyền bình đẳng của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" được thực hiện bởi tác giả Phan Thị Thùy Hiền (Mã sinh viên: 4537102), sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội. Đề tài được đặt trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình phát triển, hội nhập kinh tế toàn cầu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Về phương diện thúc đẩy bình đẳng giới, Việt Nam được Liên Hợp Quốc đánh giá là điểm sáng trong thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Theo Báo cáo khoảng cách giới toàn cầu năm 2022 do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố vào tháng 7/2022, chỉ số xếp hạng bình đẳng giới của Việt Nam đạt vị trí 83 trên tổng số 146 quốc gia, tăng 4 bậc so với năm trước, ghi nhận những tiến bộ rõ nét trong việc trao quyền cho phụ nữ, giáo dục và y tế.

Tuy nhiên, xuất phát điểm của Việt Nam là nền văn minh nông nghiệp, trải qua hàng ngàn năm chịu ảnh hưởng nặng nề từ tư tưởng Nho giáo phong kiến phương Bắc với các định kiến "trọng nam khinh nữ", "xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử". Trong cấu trúc gia đình truyền thống, vị thế của người phụ nữ từng bị đánh giá thấp, chủ yếu gắn liền với công việc nội trợ, ít cơ hội tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội và thường xuyên là nạn nhân của bạo lực gia đình. Nhận thức rõ điều này, ngay từ Cương lĩnh năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định nam nữ bình quyền là một trong mười nhiệm vụ cốt yếu. Tư tưởng này tiếp tục được thể chế hóa xuyên suốt qua Hiến pháp năm 1946 (Điều 9), Hiến pháp năm 1992 (Điều 63) và Hiến pháp năm 2013 (Điều 16, Điều 26, Điều 36). Dù mức độ sở hữu, quản lý tài sản và vị thế của phụ nữ hiện nay đã được nâng cao, việc bảo đảm quyền bình đẳng thực chất giữa vợ và chồng trong thực tiễn vẫn gặp nhiều rào cản.

Từ bối cảnh thực tiễn và cơ sở lập pháp trên, tác giả xác định mục đích nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền bình đẳng giữa vợ và chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật cùng thực tiễn áp dụng; chỉ ra những điểm hạn chế, vướng mắc; từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua ba nội dung:

  1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của quyền bình đẳng giữa vợ và chồng.
  2. Phân tích, tìm hiểu nội dung quyền bình đẳng giữa vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trên các phương diện nhân thân, tài sản và khi ly hôn.
  3. Nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về quyền bình đẳng của vợ và chồng tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền bình đẳng này trong xã hội hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về quyền bình đẳng của vợ và chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn áp dụng các quy định này. Về phạm vi nghiên cứu, khóa luận tập trung phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam (trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các văn bản liên quan) và đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật trên phạm vi toàn quốc trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các chuẩn mực quốc tế và hệ thống văn bản pháp lý quốc gia:

  • Văn kiện quốc tế: Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 (UDHR, Điều 1 khẳng định mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi); Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW); Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát về quyền con người (UPR).
  • Văn bản pháp luật quốc gia: Cương lĩnh chính trị năm 1930; Hiến pháp năm 1946 (Điều 9 quy định "Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện"); Hiến pháp năm 2013 (Khoản 1 Điều 16, Điều 26, Điều 36); Luật Bình đẳng giới năm 2006 (Khoản 3 Điều 5); Bộ luật Dân sự năm 2015 (Khoản 1 Điều 39, Điều 40, Điều 189, Điều 192, Khoản 2 Điều 213); Luật Cư trú năm 2020 (Điều 2, Điều 14); Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (các điều 17, 19, 20, 21, 22, 23, 29, 33, 35, 43, 47, 48, 51, 56, 59, 66, 69, 71, 72) và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ Tư pháp.

Về phương pháp luận, nghiên cứu quán triệt quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền bình đẳng giới và gia đình. Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, tác giả sử dụng phối hợp:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dùng để phân tích các quy phạm pháp luật trong Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Dân sự, các văn bản dưới luật và tổng hợp thành các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp so sánh: Dùng để đối chiếu giữa các quy định của pháp luật với thực tế áp dụng, chỉ ra sự tương thích hoặc độ vênh giữa luật thực định và đời sống xã hội.
  • Phương pháp liệt kê: Được áp dụng để tổng thuật các công trình nghiên cứu đi trước, viện dẫn các tài liệu tham khảo và văn bản pháp luật, tạo dựng nền tảng lý luận vững chắc.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các công trình nghiên cứu trước đây (như luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Đảm năm 2020, Nguyễn Thị Anh Thư năm 2021, Nguyễn Thị Hà năm 2021, Trần Huệ Trinh năm 2022, Nguyễn Thanh Vũ năm 2022; giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội các năm 2019, 2021; các bài viết chuyên ngành của Nguyễn Văn Cử năm 2016, Nguyễn Thị Lan năm 2016, Nguyễn Thị Hương Giang năm 2022); dữ liệu từ Tổng cục Thống kê (GSO năm 2023, 2024); Báo cáo khoảng cách giới năm 2022 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF); cùng thông tin từ Bộ Y tế, Bộ Tài chính và Viện Sức khỏe Tâm thần.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền bình đẳng của vợ và chồng

Chương 1 làm rõ các phạm trù lý luận nền tảng. Dựa trên Từ điển bách khoa Việt Nam, bình đẳng được định nghĩa là sự đối xử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trước hết là bình đẳng trước pháp luật. Trên cơ sở đối chiếu Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tác giả đưa ra định nghĩa: Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng là việc vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trên cơ sở nguyên tắc dân chủ, công bằng, tôn trọng lẫn nhau trong quan hệ nhân thân và tài sản, không phân biệt đối xử trong các mối quan hệ ở phạm vi gia đình và xã hội.

Khóa luận phân tích các đặc điểm cơ bản của quyền bình đẳng giữa vợ và chồng:

  • Quyền bình đẳng vợ chồng mang bản chất quyền con người, được pháp luật thừa nhận trên nguyên tắc công bằng, dân chủ, kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp.
  • Quyền này luôn được đặt trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với lợi ích chung của gia đình và cộng đồng xã hội; tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam gắn chặt kết cấu "gia đình - làng xã - Nhà nước".
  • Quyền bình đẳng vợ chồng có mối liên hệ mật thiết với pháp luật; các quyền tự nhiên chỉ thực sự trở thành quyền khi được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
  • Về tính chất đặc thù, quyền bình đẳng vợ chồng phát sinh khi sự kiện kết hôn hợp pháp xảy ra và chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt, bao gồm hai nhóm nội dung gắn bó chặt chẽ: quyền, nghĩa vụ nhân thân (mang tính tình cảm, gắn liền nhân thân) và quyền, nghĩa vụ tài sản (sở hữu, cấp dưỡng, thừa kế).

Về vai trò và ý nghĩa, khóa luận nhấn mạnh quyền bình đẳng vợ chồng là cơ sở pháp lý định hướng chuẩn mực ứng xử; bảo đảm thỏa mãn nhu cầu tinh thần và nền tảng kinh tế gia đình; thúc đẩy bình đẳng giới trong phát triển kinh tế (số liệu trích dẫn cho thấy tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động đạt 78,2% so với 86% ở nam giới); đồng thời có ý nghĩa giải phóng cho cả hai giới (giải phóng phụ nữ khỏi định kiến và giảm bớt áp lực kinh tế trụ cột cho nam giới - yếu tố gắn liền với tỷ lệ tự tử ở nam giới cao gấp 3 lần nữ giới). Về mặt pháp lý, bình đẳng trong quan hệ tài sản được xác định là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự bình đẳng về nhân thân và các quan hệ khác trong đời sống hôn nhân.

Chương 2: Nội dung cơ bản về quyền bình đẳng của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 2014

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh ba nhóm quan hệ:

  1. Bình đẳng trong các quyền và nghĩa vụ về nhân thân:
  • Vợ chồng bình đẳng về nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín (Khoản 1 Điều 19, Điều 21) và tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 22). Đồng thời, cả hai có nghĩa vụ ngang nhau trong việc thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.
  • Tự do lựa chọn nơi cư trú: Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 2 và Điều 14 Luật Cư trú năm 2020 cùng Điều 20 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận việc lựa chọn nơi cư trú do vợ chồng tự thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính.
  • Quyền và nghĩa vụ học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 23). Tác giả đối chiếu các quy định này với số liệu thống kê năm 2023 của Tổng cục Thống kê (GSO) để chỉ ra bất cập giới trong thị trường lao động:
Chỉ số thống kê (Năm 2023) Lao động Nam Lao động Nữ Chênh lệch / Đánh giá
Quy mô lực lượng lao động (từ 15 tuổi trở lên) 27,0 triệu người (53,3%) 24,5 triệu người (46,7%) Tổng quy mô đạt 52,4 triệu người
Thu nhập bình quân hàng tháng 8,1 triệu đồng 6,0 triệu đồng Thu nhập nam giới gấp 1,36 lần nữ giới
Rủi ro sa thải tại khu công nghiệp (độ tuổi >35) Thấp hơn Có nơi lên tới 80% Nữ giới chịu rủi ro cao do áp lực việc gia đình
  1. Bình đẳng trong các quyền và nghĩa vụ về tài sản:
  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận (Khoản 1 Điều 29). Chế độ thỏa thuận phải được lập bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực trước khi kết hôn (Điều 47, Điều 48).
  • Về chế độ tài sản luật định, quy phạm phân định rõ tài sản chung và tài sản riêng trên nguyên tắc bình đẳng:
Tiêu chí Tài sản chung của vợ chồng (Điều 33) Tài sản riêng của vợ chồng (Điều 43)
Căn cứ xác lập - Do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, sản xuất kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân.
- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng (trừ trường hợp đã chia).
- Tài sản thừa kế chung, tặng cho chung.
- Quyền sử dụng đất có được sau kết hôn (trừ trường hợp riêng).
- Thu nhập hợp pháp khác (tiền thưởng, trúng số...).
- Tài sản có trước khi kết hôn.
- Tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân.
- Tài sản được chia riêng khi hôn nhân đang tồn tại.
- Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu.
- Tài sản hình thành từ tài sản riêng.
- Quyền sở hữu trí tuệ, trợ cấp ưu đãi người có công.
Sở hữu và định đoạt Sở hữu chung hợp nhất; dùng bảo đảm nhu cầu gia đình. Định đoạt bất động sản, động sản đăng ký, nguồn thu nhập chính phải có thỏa thuận bằng văn bản của cả hai bên. Thuộc sở hữu riêng của từng người; có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt riêng; tự quyết định việc nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung.

Khóa luận chỉ ra bất cập: Khi thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản riêng được tặng cho hoặc nhận trước hôn nhân, cơ quan có thẩm quyền vẫn yêu cầu người vợ/chồng phải có văn bản cam đoan đó là tài sản riêng của bên kia, gây khó khăn cho việc thực hiện giao dịch dân sự.

  • Xác định công sức đóng góp: Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định lao động trong gia đình (nội trợ, chăm sóc con cái) được tính là lao động có thu nhập tương đương với lao động đi làm. Tuy nhiên, việc định lượng công sức này trên thực tế còn trừu tượng, khó áp dụng thống nhất.
  • Bình đẳng về quyền, nghĩa vụ đối với con cái (các điều 69, 71, 72): Cha mẹ bình đẳng trong chăm sóc, bảo vệ, giáo dục con; không phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính hay tình trạng hôn nhân của cha mẹ.
  1. Bình đẳng giữa vợ và chồng khi ly hôn:
  • Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn (Điều 51, Điều 56): Vợ và chồng có quyền ngang nhau trong việc yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn hoặc giải quyết ly hôn đơn phương. Tuy nhiên, xuất phát từ tính nhân văn, Khoản 3 Điều 51 hạn chế quyền xin ly hôn đơn phương của người chồng trong thời gian người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
  • Bất cập về chế định ly thân: Khóa luận chỉ ra rằng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa quy định chế định ly thân, dù thực tế đời sống ghi nhận nhu cầu ly thân rất lớn để giảm thiểu bạo lực, cân nhắc mâu thuẫn hoặc giải quyết vấn đề của các cặp vợ chồng theo tín ngưỡng (như Công giáo).
  • Phân chia tài sản khi ly hôn (Điều 59, Điều 66): Ưu tiên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì chia đôi có tính đến công sức đóng góp, hoàn cảnh gia đình, bảo vệ quyền lợi sản xuất kinh doanh và yếu tố lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng (Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016). Khóa luận lưu ý việc xác định các lỗi vi phạm về nhân thân (xúc phạm danh dự, không tôn trọng tín ngưỡng) trong thực tiễn rất khó thu thập chứng cứ.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng của vợ chồng

Chương 3 của đề tài (theo kết cấu được xác lập trong mục lục và phần mở đầu) tập trung khảo cứu thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật về quyền bình đẳng vợ chồng tại Tòa án và các cơ quan hành chính giai đoạn 2018 - 2023. Tác giả phân tích những kết quả đạt được trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của phụ nữ và trẻ em, đồng thời nêu rõ các khó khăn, vướng mắc trong phân chia tài sản, xác định lỗi và quản lý hộ tịch. Từ thực tiễn đó, chương này đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm sửa đổi quy định pháp luật và nâng cao nhận thức xã hội.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và chỉ ra các kết quả nghiên cứu chính dựa trên dữ liệu luật học và thực tiễn:

  • Phản ánh thực trạng bình đẳng giới bằng số liệu thống kê: Tác giả dẫn chứng chỉ số xếp hạng bình đẳng giới của Việt Nam năm 2022 xếp thứ 83/146 quốc gia; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ đạt 78,2% so với 86% ở nam giới; tỷ lệ nữ trong tổng lực lượng lao động chiếm 46,7% (24,5 triệu người). Số liệu thực tế cũng chỉ ra chênh lệch thu nhập khi lương bình quân của lao động nam (8,1 triệu đồng/tháng) cao gấp 1,36 lần lao động nữ (6,0 triệu đồng/tháng), cùng tình trạng có nơi tới 80% lao động nữ trên 35 tuổi tại khu công nghiệp bị mất việc làm.
  • Làm rõ các điểm tiến bộ của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Ghi nhận thỏa thuận chế độ tài sản trước hôn nhân (Điều 47); công nhận công việc nội trợ là lao động có thu nhập tương đương người đi làm (Khoản 1 Điều 29, Thông tư liên tịch 01/2016); bổ sung xem xét yếu tố lỗi của mỗi bên khi phân chia tài sản ly hôn (Điều 59); hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng để bảo vệ thai phụ và trẻ dưới 12 tháng tuổi (Khoản 3 Điều 51).
  • Các giải pháp và kiến nghị được tác giả định hình:
    • Cần bổ sung và thể chế hóa chế định ly thân vào Luật Hôn nhân và gia đình nhằm tạo hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ tài sản, con cái và nhân thân trong giai đoạn hôn nhân khủng hoảng mà chưa muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân.
    • Sửa đổi thủ tục hành chính liên quan đến giao dịch quyền sử dụng đất là tài sản riêng, bãi bỏ yêu cầu mang tính hình thức buộc người vợ/chồng phải làm văn bản cam đoan tài sản riêng của bên kia khi đã có đủ giấy tờ chứng minh hợp pháp.
    • Cụ thể hóa tiêu chí định lượng giá trị công sức đóng góp của lao động gia đình (nội trợ, chăm sóc thành viên gia đình) trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân Tối cao.
    • Xây dựng cơ chế rõ ràng về thu thập chứng cứ và đánh giá yếu tố lỗi vi phạm quyền nhân thân khi phân chia tài sản ly hôn.
  • Đóng góp khoa học: Khóa luận đã kế thừa kết quả từ các công trình nghiên cứu thạc sĩ của Bùi Thị Đảm (2020), Nguyễn Thị Anh Thư (2021), Trần Huệ Trinh (2022) và giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội; cung cấp cái nhìn hệ thống, toàn diện về quyền bình đẳng của vợ chồng trên cả hai phương diện nhân thân và tài sản theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; đồng thời cập nhật các số liệu thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 2022 - 2023.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn nghiên cứu được xác định từ phạm vi đề tài:

  • Hạn chế: Dữ liệu thực tiễn và số liệu kinh tế - xã hội chủ yếu được giới hạn trong mốc thời gian từ năm 2018 đến năm 2023. Do tính chất phức tạp và tế nhị của quan hệ hôn nhân gia đình, việc lượng hóa cụ thể các yếu tố công sức đóng góp phi vật chất và chứng cứ vi phạm nghĩa vụ nhân thân (như xúc phạm danh dự, áp lực tinh thần) còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu thực tế xét xử.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp quốc tế về chế định ly thân để xây dựng khung pháp lý cụ thể cho Việt Nam; hoàn thiện cơ chế tố tụng chứng minh lỗi nhân thân trong các vụ án hôn nhân và gia đình; nghiên cứu mô hình tính toán định lượng kinh tế cho công việc nội trợ nhằm áp dụng thống nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học, đặc biệt là các bộ môn Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới khi nghiên cứu lý luận và viết khóa luận, luận văn.
  • Cán bộ tư pháp, thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư trong việc tra cứu các căn cứ pháp lý, nguyên tắc phân chia tài sản chung, tài sản riêng và giải quyết tranh chấp tài sản ly hôn gắn với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.
  • Các cá nhân, cặp vợ chồng muốn tìm hiểu quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình về chế độ tài sản theo luật định, chế độ tài sản theo thỏa thuận trước hôn nhân và quyền nhân thân trong quan hệ gia đình.

Phần đáng tham khảo nhất của công trình là nội dung Chương 2, nơi phân tích cặn kẽ từng điều luật về sở hữu tài sản chung, tài sản riêng, trách nhiệm liên đới và các quy định bảo vệ người vợ khi chấm dứt hôn nhân.

Câu hỏi thường gặp

Công việc nội trợ trong gia đình có được xem là lao động tạo ra thu nhập khi phân chia tài sản ly hôn không?
Có. Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP khẳng định nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, lo công việc gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của người đi làm bên ngoài.

Người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn đơn phương trong trường hợp nào?
Căn cứ Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Quy định này chỉ áp dụng đối với người chồng nhằm bảo đảm sức khỏe thể chất và tinh thần cho người mẹ và trẻ sơ sinh; người vợ vẫn có đầy đủ quyền nộp đơn ly hôn trong các giai đoạn này.

Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng phải tuân thủ điều kiện gì để có hiệu lực pháp luật?
Theo Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thỏa thuận về chế độ tài sản phải được hai bên lập trước khi đăng ký kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Chế độ tài sản này chính thức phát sinh hiệu lực kể từ ngày hai bên được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

Khi chia tài sản ly hôn, Tòa án xem xét yếu tố lỗi của mỗi bên dựa trên căn cứ nào?
Căn cứ Điểm đ Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, lỗi của mỗi bên là lỗi vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn (chẳng hạn như có hành vi bạo lực gia đình, ngoại tình không chung thủy, hoặc có hành vi phá tán tài sản chung). Bên có lỗi sẽ bị xem xét chia phần tài sản ít hơn nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên kia và con chưa thành niên.

Khoảng cách thu nhập và lao động giữa nam và nữ tại Việt Nam được tác giả trích dẫn qua số liệu nào?
Tác giả dẫn số liệu năm 2023 của Tổng cục Thống kê (GSO) cho thấy: Lực lượng lao động nữ đạt 24,5 triệu người (46,7% tổng lực lượng), nam đạt 27,0 triệu người (53,3%). Thu nhập bình quân hàng tháng của lao động nam làm công hưởng lương đạt 8,1 triệu đồng, cao gấp 1,36 lần thu nhập bình quân của lao động nữ (6,0 triệu đồng). Ngoài ra, kết quả khảo sát tại một số doanh nghiệp chỉ ra có nơi tới 80% lao động nữ trên 35 tuổi tại khu công nghiệp bị buộc thôi việc hoặc tự bỏ việc.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Thị Thùy Hiền đã khái quát và hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và quy định thực định về quyền bình đẳng của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghiên cứu đã phân tích sâu sắc cả hai nhóm quyền nhân thân và quyền tài sản, làm nổi bật các điểm tiến bộ mang tính nhân văn của pháp luật Việt Nam như ghi nhận giá trị lao động nội trợ và bảo vệ thai phụ, trẻ nhỏ. Đồng thời, công trình chỉ ra những bất cập thực tiễn về khoảng cách thu nhập giới, thủ tục tài sản riêng và việc thiếu vắng chế định ly thân. Đây là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp, hoạt động xét xử và nghiên cứu pháp luật hôn nhân - gia đình hiện nay.