mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về năng lực quản lý nhà nƣớc về hoạt động kinh doanh ngành in. Thực trạng năng lực quản lý nhà nƣớc về hoạt động kinh doanh ngành in ở Việt Nam giai đoạn 2008-2013. Một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nƣớc về hoạt động kinh doanh ngành in trong giai đoạn tới.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÀNH IN 1. Khái quát chung về sự hình thành của ngành in: 1. Lịch sử ngành in và các công nghệ in: 1. Khái quát về lịch sử ngành in thế giới: In ấn bắt đầu xuất hiện và phát triển đầu tiên ở Trung Quốc.
Kĩ thuật in khối dùng gỗ sơ khai đã bắt đầu phổ biến ở thế kỉ thứ 6. Sách cổ nhất đƣợc in còn tới ngày nay sử dụng kĩ thuật in khối tinh vi có từ năm 868 SCN (kinh Kim Cƣơng). Đến thế kỉ thứ 12 và 13, các thƣ viện ở Ả Rập và Trung Quốc đã có tới hàng chục nghìn bản sách. Sự phát triển của in ấn là một bƣớc đột phá trong phổ biến tri thức: nhà in đã đƣợc dựng lên ở Venice năm 1469 và tới năm 1500 thành phố này đã có tới 417 thợ in.
Năm 1470, Johann Heynlin lập nhà in ở Paris. Năm 1476, nhà in đƣợc lập ở Anh quốc bởi William Caxton; năm 1539, một ngƣời Ý tên là Juan Pablos đã lắp đặt một nhà in đƣợc nhập về ở Thành phố Mexico, Mexico. Stephen Day xây dựng nhà in đầu tiên của Bắc Mĩ ở vịnh Massachusetts năm 1628, và là ngƣời góp phần lập nên nhà xuất bản Cambridge. Máy in dùng kỹ thuật offset và thạch bản đầu tiên ra đời ở Anh khoảng năm 1875 và đã đƣợc thiết kế để in lên kim loại.
Trống offset làm bằng giấy các tông truyền hình ảnh cần in từ bản in thạch bản sang bề mặt kim loại. Khoảng 5 năm sau, giấy các tông đƣợc thay bằng cao su. Ngƣời đầu tiên áp dụng kỹ thuật in offset cho in ấn trên giấy có thể là Ira Washington Rubel năm 1903. Ông đã tình cờ nhận thấy mỗi khi một tờ giấy không đƣợc đƣa vào máy in thạch bản của ông một cách đúng nhịp, bản in thạch bản in lên trống in đƣợc bọc bằng cao su, và tờ giấy cho vào tiếp theo bị dính 2 hình: bản in thạch bản ở mặt trên và bản in do dính từ trống in ở mặt dƣới.
Rubel 7 cũng nhận thấy hình ảnh in từ trống in cao su nét và sạch hơn vì miếng cao su mềm áp đều lên giấy hơn là bản in bằng đá cứng. Ông đã quyết định in thông qua các tấm bằng cao su. Độc lập với Rubel, hai anh em Charles Harris và Albert Harris cũng đã phát hiện ra điều này và chế tạo máy in offset cho Công ty In ấn Tự động Harris. Các thiết kế của Harris, phát triển từ máy in gồm các trống quay, rất giống hình vẽ trong bài.
Nó gồm một trống bản in tiếp xúc chặt với các cuộn mực in và nƣớc. Một trống cao su tiếp xúc ngay bên dƣới trống xếp chữ. Trống in ở bên dƣới có nhiệm vụ ấn chặt tờ giấy vào trống cao su để truyền hình ảnh. Ngày nay, cơ chế cơ bản này vẫn đƣợc dùng, nhƣng nhiều cải tiến đã đƣợc thực hiện, nhƣ thêm in hai mặt hay nạp giấy bằng cuộn giấy (thay vì các miếng giấy).
Trong những năm 1950, in offset trở thành kỹ thuật in phổ biến nhất cho in ấn thƣơng mại, sau khi nhiều cải tiến đã đƣợc thực hiện cho bản xếp chữ, mực in và giấy, tối ƣu hóa tốc độ in và tuổi thọ các bản xếp chữ. Ngày nay, đa số in ấn, gồm cả in báo chí, sử dụng kỹ thuật này. Ở khâu sau in các máy móc, thiết bị có hệ thống điện tử tự động, cài đặt chƣơng trình đƣợc sử dụng. Đã có hàng loạt máy liên hợp đóng sách, các loại máy gia công sản phẩm khác nhau nhƣ máy bế, dán, máy đóng dán bao bì liên tục, máy gấp, máy khâu, máy vô bìa keo, máy nhủ vàng, bạc…Kỹ thuật máy tính xuất hiện đã làm đảo lộn hoàn toàn ngành công nghiệp in trên toàn thế giới.
Trong những năm 90 của thế kỷ 20, ngành in đã có những phát triển công nghệ quan trọng. Ở thời điểm này, một đặc điểm của công nghệ in đáng chú ý là sự liên kết giữa 3 công đoạn trong kỹ thuật in là trƣớc in – in – sau in, nổi bậc là kỹ thuật “Computer-to” và các nguyên vật liệu mới phục vụ cho kỹ thuật này. Cùng với công nghệ in ấn bằng kĩ thuật in ốp sét – offset, hiện nay các kĩ thuật in phổ biến khác gồm in nổi (dùng chủ yếu trong các cuốn Catalogue), in 8 lụa, in quay, in phun và in laser. Nhà in thƣơng mại và công nghiệp lớn nhất trên thế giới là Montreál, ở Quebec, Quebecor World.
In kĩ thuật số phần lớn sử dụng hiện tƣợng tĩnh điện để chuyển mực in lên trên chất liệu in. Công nghệ này phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây với các sản phẩm đa dạng từ các máy sao chép (copier) màu hay đen trắng cho tới các máy in màu hiện đại nhƣ Xerox iGen3-4, Kodak Nexpress, hay loạt máy HP Indigo. iGen3 và Nexpress sử dụng trống mực còn Indigo dùng mực lỏng. Lịch sử hình thành in ấn tại Việt Nam: Nghề in bản gỗ khắc ra đời ở kinh thành Thăng Long từ thời nhà Lý cách nay hơn 800 năm.
Đến thế kỷ XV, dƣới triều Lê sơ, Thị lang bộ Lễ kiêm Bí thƣ giám học sinh Lƣơng Nhƣ Học, từng hai lần đi sứ sang Trung Quốc đã nghiên cứu thêm kỹ thuật in khắc gỗ về dạy nghề cho dân làng quê ông ,từ đó ông đƣợc tôn thờ làm tổ sƣ nghề in. Giữa thế kỷ XIX, khi Pháp xâm chiếm Sài Gòn và du nhập kỹ thuật in ty pô, nghề in bản gỗ khắc vẫn tiếp tục đƣợc sử dụng vì bấy giờ chữ quốc ngữ la tinh chƣa phổ biến rộng rãi. Nghề in chữ đúc (typô) đầu tiên du nhập vào Việt Nam năm 1861 tại Sài Gòn sau đội quân xâm lƣợc của đô đốc Pháp Bonard. Xƣởng in này đƣa từ Paris sang, gồm máy, chữ, mực, giấy và 4 công nhân Pháp.
Những thập niên đầu thế kỷ XX, chữ quốc ngữ phổ biến mạnh hơn trƣớc, công việc dịch thuật, sáng tác văn học nhiều thể loại rất phong phú đã kích thích mở rộng thị trƣờng sách báo quốc ngữ, đòi hỏi một sự phát triển đột biến của ngành in, nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Cùng với tƣ bản Pháp, nhiều nhà tƣ sản Việt, Hoa ở Sài Gòn đã sớm chen chân kinh doanh trên lĩnh vực này nhƣ: Phát Toán (1909) J. Nguyễn Văn Viết et fils (1922), Á Đông - Chợ Lớn (1923), Quan Đồng Âm - Chợ Lớn (1923), Xƣa nay (1926), Bảo tồn (1927) 9 Nếu trong hai thập niên đầu thế kỷ chỉ có khoảng 20 nhà in đăng ký hành nghề thì hai thập niên kế đó (1920-1940), con số này tăng gấp 4 lần, lên tới gần 80 cơ sở, tuy rằng nhiều nhà in chỉ sống một vài năm rồi đóng cửa hoặc sáp nhập vào các cơ sở khác. Theo tƣ liệu lƣu trữ, đầu năm 1937, toàn Đông Dƣơng có 88 nhà in đang hoạt động in đƣợc sách báo.
Riêng Sài Gòn đã có 28 nhà in, trong đó có tới 18 cơ sở mang tên Việt, Hoa (chiếm trên 60%), tuy năng lực và kỹ thuật in kém nhiều so với các nhà in của tƣ bản ngoại quốc. - Giai đoạn 1952-1975: Đây là thời kỳ tạo dựng nền móng, hình thành và từng bƣớc phát triển nền xuất bản cách mạng. Thời kỳ này đã xuất bản đƣợc 31.215 tên sách với 529. - Giai đoạn 1976-1985: Sau khi đất nƣớc thống nhất, các xuất bản phẩm xuất bản đã góp phần có hiệu quả trong việc khôi phục và phát triển kinh tế, phản ánh cuộc đấu tranh về sự lựa chọn con đƣờng XHCN.
Sau khi đất nƣớc thống nhất, các xuất bản phẩm đã góp phần có hiệu quả trong việc khôi phục và phát triển kinh tế. Số sách xuất bản 22.000 tên sách với 533. - Giai đoạn 1986-2001: Đây là thời kỳ đổi mới đất nƣớc dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các xuất bản phẩm đã góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nâng cao dân trí, phát triển kinh tế. Tốc độ phát triển của ngành năm sau cao hơn năm trƣớc.
Năm 2001, xuất bản, phát hành tăng gấp 3,2 lần về bản; in tăng 4,4 lần về trang in so với năm 1986. - Giai đoạn 2002 - nay: Đây là thời kỳ phát triển vƣợt bậc của ngành xuất bản, các xuất bản phẩm đã phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nƣớc, làm giàu thêm các giá trị văn hoá Việt Nam. Từ những tổ chức nhỏ bé ban đầu ở chiến khu Việt Bắc, hiện nay cả nƣớc đã có 64 nhà xuất bản, khoảng 1.500 cơ sở in và khoảng 13.700 nhà sách, hiệu sách, trung tâm sách…; 119 công ty phát hành sách cấp tỉnh thuộc lĩnh vực thông tin – truyền thông, văn hóa, giáo dục – đào tạo; 75 công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh xuất bản phẩm. Công nghệ in ấn và các đặc điểm chính: In ấn là quá trình tạo ra chữ và tranh ảnh trên các chất liệu nền nhƣ giấy, bìa các tông, ni lông, vải.
bằng một chất liệu khác gọi là mực in. In ấn thƣờng đƣợc thực hiện với số lƣợng lớn ở quy mô công nghiệp và là một phần quan trọng trong xuất bản. Các phƣơng pháp in ấn cơ bản hiện nay: In offset, flexo, ống đồng. là những khái niệm còn xa lạ đối với rất nhiều ngƣời, tuy nhiên để hiểu những vấn đề cơ bản đó của kỹ thuật in và các phƣơng pháp in chính hiện nay cũng không phải là việc khó khăn.
- In typo: Đây là phƣơng pháp in đầu tiên và cổ xƣa nhất, đƣợc phát minh bởi ngƣời Trung Quốc nhƣng ngƣời Đức (Johan Gutenberg) mới là ngƣời đƣợc công nhận là ông tổ ngành in. Về nguyên lý, in typo là phƣơng pháp in cao, tức là trên khuôn in typo, các phần tử in (hình ảnh, chữ viết) nằm cao hơn các phần không in. Khi in, chúng ta chà mực qua bề mặt khuôn in, các phần tử in nằm cao hơn nên sẽ nhận mực và sau đó khi ép in, mực sẽ truyền qua bề mặt giấy in tạo thành hình ảnh, chữ cần in.