Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, năng suất và chất lượng là yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tại tỉnh Đắk Lắk, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò nòng cốt đối với sự phát triển kinh tế địa phương khi đạt quy mô 5.910 doanh nghiệp hoạt động tính đến ngày 31/12/2014. Tuy nhiên, phần lớn các đơn vị này có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, năng lực vốn mỏng, công nghệ trung bình và trình độ quản trị còn nhiều rào cản. Nhằm hiện thực hóa Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 21/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình 6 thuộc Nghị quyết số 43/2011/NQ-HĐND tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011 - 2015, việc triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng trở thành nhiệm vụ cấp thiết hàng đầu.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung xây dựng khung lý thuyết toàn diện về tổ chức thực thi chính sách nâng cao năng suất chất lượng của chính quyền cấp tỉnh, đánh giá thực trạng triển khai giai đoạn 2011 - 2014 và đề xuất hệ thống giải pháp thực tiễn đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa kinh tế xã hội to lớn khi Đắk Lắk sở hữu hơn 1.537.000 ha diện tích tự nhiên với thế mạnh vượt trội về nông lâm sản chủ lực. Dù vậy, GDP bình quân đầu người của tỉnh năm 2014 mới đạt 31,9 triệu đồng/người (tương đương 1.457 USD, bằng khoảng 71,21% mức bình quân chung cả nước năm 2013), đồng thời nguồn thu ngân sách địa phương năm 2013 đạt 7.854 tỷ đồng chỉ đáp ứng 40,34% nhu cầu tổng chi 17.500 tỷ đồng. Do đó, hoàn thiện chu trình thực thi chính sách là chìa khóa để khai phóng tiềm năng và tối ưu hóa năng suất lao động địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết thực thi chính sách công kết hợp cùng lý thuyết quản trị chất lượng toàn diện. Khung phân tích vận dụng các tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ, phân chia doanh nghiệp thành 3 cấp độ: siêu nhỏ (dưới 10 lao động), nhỏ (tổng nguồn vốn từ 20 đến 100 tỷ đồng hoặc từ 10 đến 200 lao động) và vừa (tổng nguồn vốn đến 100 tỷ đồng hoặc số lao động đến 300 người). Ba khái niệm trung tâm được làm rõ gồm: doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách nâng cao năng suất chất lượng và tổ chức thực thi chính sách của chính quyền cấp tỉnh.

Mô hình nghiên cứu phân rã quy trình thực thi chính sách cấp tỉnh thành 3 giai đoạn logic:

  1. Giai đoạn chuẩn bị triển khai: Bao gồm kiện toàn bộ máy hành chính, lập kế hoạch 5 năm và hàng năm, ban hành văn bản hướng dẫn và tổ chức đào tạo tập huấn.
  2. Giai đoạn chỉ đạo thực thi: Thực hiện truyền thông đại chúng, triển khai các kế hoạch can thiệp, vận hành các quỹ tài chính, điều phối liên ngành, đàm phán giải quyết xung đột và phát triển mạng lưới dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật.
  3. Giai đoạn kiểm soát thực hiện: Xây dựng hệ thống thông tin phản hồi, theo dõi giám sát định kỳ và ban hành sáng kiến điều chỉnh chính sách. Quá trình này đòi hỏi 4 tiền đề thành công: chính sách hợp lý, bộ máy hành chính vững mạnh, quyết tâm chính trị của lãnh đạo tỉnh và sự đồng thuận từ cộng đồng doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2011 - 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Cục Thống kê và Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đắk Lắk, kết hợp tài liệu đối sánh từ hai tỉnh lân cận là Đắk Nông và Lâm Đồng.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 5.910 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đến hết năm 2014 để phân tích biến động quy mô và cơ cấu ngành. Đối với nội dung đánh giá chất lượng triển khai, phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng trên 50 doanh nghiệp tham gia các khóa tập huấn kiến thức tiêu chuẩn đo lường và 14 doanh nghiệp xây dựng mô hình điểm để phân tích sâu hiệu quả áp dụng hệ thống quản lý. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh chuỗi thời gian và phân tích tổng hợp mô hình hóa là nhằm đảm bảo tính lượng hóa chính xác các chỉ tiêu kinh tế, đồng thời phản ánh khách quan mối tương quan giữa sự chỉ đạo của bộ máy công quyền và mức độ hưởng ứng của doanh nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Đắk Lắk có sự gia tăng nhanh nhưng đi kèm mức độ bất ổn định cao và cơ cấu ngành nghề còn mất cân đối nghiêm trọng. Tính đến ngày 31/12/2014, tổng số doanh nghiệp hoạt động đạt 5.910 đơn vị, đạt tốc độ tăng trưởng 108,40% so với năm 2013. Tuy nhiên, phân bố theo ngành cho thấy nhóm Thương mại - Dịch vụ chiếm tỷ trọng áp đảo 53,53% (3.234 doanh nghiệp), Công nghiệp - Xây dựng chiếm 30,58% (1.419 doanh nghiệp), trong khi nhóm Nông - Lâm - Thủy sản chỉ chiếm khiêm tốn 4,46% (353 doanh nghiệp), dù nông nghiệp tạo ra 45% giá trị cơ cấu kinh tế toàn tỉnh.

Thứ hai, biến động thành lập mới và giải thể phản ánh áp lực cạnh tranh gay gắt. Năm 2011, số doanh nghiệp thành lập mới là 648 nhưng có tới 1.206 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động. Sang năm 2013, số đăng ký mới bứt phá lên 1.001 doanh nghiệp (tăng 169,09% so với năm 2012) nhưng số doanh nghiệp giải thể vẫn ở mức cao với 921 đơn vị. Đến năm 2014, số doanh nghiệp thành lập mới đạt 613 và số giải thể giảm xuống 478 đơn vị.

Thứ ba, công tác chỉ đạo và tổ chức thực thi chính sách hỗ trợ năng suất chất lượng mới chỉ dừng lại ở bề rộng, chưa tạo được đột phá về chiều sâu. Hoạt động chủ yếu tập trung vào tuyên truyền và phổ biến kiến thức đại trà. Khi đối sánh với tỉnh Lâm Đồng (nơi đạt 33 trên 53 mô hình điểm áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, tương đương 62,3% kế hoạch và hỗ trợ 5 doanh nghiệp đạt Giải thưởng Chất lượng Quốc gia với 1 giải vàng, 4 giải bạc), Đắk Lắk chưa huy động được sự tham gia tích cực từ các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm xuất khẩu chủ lực như cà phê, cao su, hồ tiêu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những hạn chế trên xuất phát từ cả hai phía: bộ máy thực thi và đối tượng thụ hưởng. Về phía doanh nghiệp, do hơn 90% là doanh nghiệp siêu nhỏ, khó khăn về vốn vay và thị trường khiến các chủ cơ sở có xu hướng ưu tiên lợi nhuận ngắn hạn thay vì đầu tư dài hạn vào các hệ thống quản lý tiên tiến như ISO, HACCP hay công cụ Kaizen, 5S. Về phía chính quyền, cơ chế phân bổ kinh phí hỗ trợ còn thấp và dàn trải. Nguồn thu ngân sách địa phương năm 2013 chỉ đạt 7.854 tỷ đồng dẫn đến việc thiếu hụt ngân sách dành cho hoạt động khoa học công nghệ. Kinh nghiệm từ Lâm Đồng cho thấy sự thành công gắn liền với cơ chế tài chính minh bạch khi ngân sách sự nghiệp khoa học chi 4 tỷ đồng và thu hút thành công 4 tỷ đồng vốn đối ứng từ doanh nghiệp.

Toàn bộ dữ liệu thực trạng có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu doanh nghiệp theo ngành nghề kinh tế năm 2014 và biểu đồ cột ghép thể hiện tương quan biến động giữa số lượng doanh nghiệp thành lập mới và giải thể giai đoạn 2011 - 2014. Cách trình bày này giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng nhận diện lỗ hổng can thiệp và tái cấu trúc nguồn lực hiệu quả.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện quá trình tổ chức thực thi chính sách nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện công tác chuẩn bị và thể chế hóa quy chế phối hợp: Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk cần ban hành quy chế phối hợp bắt buộc giữa Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng chính quyền cấp huyện. Đặt mục tiêu từ năm 2016 đến năm 2020 hỗ trợ tối thiểu 40 đến 50 doanh nghiệp sản xuất nông sản chủ lực xây dựng mô hình điểm áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến.

  2. Đổi mới công tác truyền thông và nâng cao chất lượng đào tạo: Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng chủ trì tổ chức định kỳ 15 đến 20 khóa đào tạo chuyên sâu hàng năm cho trên 300 lượt cán bộ quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp. Mục tiêu nâng tỷ lệ nhận thức về quy chuẩn kỹ thuật và công cụ cải tiến năng suất đạt trên 85% vào năm 2018.

  3. Vận hành linh hoạt nguồn lực tài chính và quỹ hỗ trợ: Sở Tài chính phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ nâng mức hỗ trợ kinh phí trực tiếp lên 50% chi phí xây dựng hệ thống quản lý chất lượng cho mỗi mô hình điểm. Lồng ghép nguồn vốn từ Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ với Quỹ Khuyến công, phấn đấu huy động tổng vốn thực hiện chính sách đạt trên 10 tỷ đồng trong giai đoạn 2016 - 2020, trong đó vốn doanh nghiệp đối ứng đạt ít nhất 50%.

  4. Xây dựng tổ chức đánh giá sự phù hợp và nâng cao năng lực kiểm định: Ban Điều hành chính sách tỉnh phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ đào tạo đội ngũ 20 chuyên gia tư vấn năng suất chất lượng tại chỗ, đồng thời đầu tư nâng cấp ít nhất 01 phòng thử nghiệm đạt chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025 trước năm 2020 nhằm đáp ứng nhu cầu chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy ngay tại địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước: Các cơ quan thuộc Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên có thể ứng dụng trực tiếp khung quy trình 3 giai đoạn để thiết kế, giám sát và đánh giá các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp địa phương.

  2. Chủ doanh nghiệp và nhà quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ: Giúp các nhà điều hành nắm bắt rõ quy chuẩn kỹ thuật, quy trình đăng ký chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy và lộ trình tiếp cận các nguồn kinh phí tài trợ khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước.

  3. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu chính sách công, phương pháp phân tích dữ liệu thực chứng và bài học đối sánh liên tỉnh trong khối ngành Khoa học Quản lý và Quản lý Kinh tế.

  4. Các hiệp hội doanh nghiệp và tổ chức tư vấn năng suất: Cung cấp góc nhìn thực tiễn để xây dựng các chương trình tư vấn quản trị, chuyển giao công nghệ và phản biện chính sách kinh tế địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Chính sách nâng cao năng suất chất lượng tại Đắk Lắk dựa trên cơ sở pháp lý trực tiếp nào? Chính sách được triển khai căn cứ theo Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 21/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ và được địa phương hóa qua Chương trình 6 thuộc Nghị quyết số 43/2011/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk về phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2011 - 2015.

  2. Quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011 - 2014 có đặc điểm gì nổi bật? Số lượng doanh nghiệp tăng trưởng qua các năm, đạt 5.910 đơn vị vào cuối năm 2014 với mức tăng 108,40%. Dù vậy, cơ cấu ngành bị lệch khi thương mại dịch vụ chiếm 53,53%, công nghiệp xây dựng chiếm 30,58%, còn nông lâm thủy sản chỉ chiếm khiêm tốn 4,46%.

  3. Bài học thành công lớn nhất từ tỉnh Lâm Đồng mà Đắk Lắk có thể học hỏi là gì? Lâm Đồng đã xây dựng thành công 33 mô hình điểm trên 53 doanh nghiệp mục tiêu (đạt tỷ lệ 62,3%) nhờ cơ chế tài chính kết hợp hiệu quả giữa 4 tỷ đồng ngân sách khoa học và 4 tỷ đồng vốn đối ứng của doanh nghiệp, giúp 5 doanh nghiệp đạt giải thưởng chất lượng quốc gia.

  4. Rào cản lớn nhất khiến doanh nghiệp Đắk Lắk chưa mặn mà với các hệ thống quản lý chất lượng là gì? Trở ngại chính bắt nguồn từ việc đa số cơ sở có quy mô siêu nhỏ, thiếu vốn đầu tư, cùng với tâm lý ngại đổi mới trong khi nguồn hỗ trợ từ ngân sách tỉnh còn eo hẹp do thu ngân sách địa phương năm 2013 chỉ đáp ứng được 40,34% tổng nhu cầu chi.

  5. Giải pháp then chốt nào giúp nâng cấp hạ tầng chất lượng kỹ thuật tại Đắk Lắk đến năm 2020? Địa phương cần tập trung đào tạo 20 chuyên gia tư vấn năng suất nòng cốt tại chỗ và đầu tư hoàn thiện ít nhất 01 phòng thử nghiệm đạt chuẩn ISO/IEC 17025 để phục vụ việc phân tích, kiểm định và chứng nhận hợp chuẩn hợp quy cho các nông sản xuất khẩu chủ lực.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa khung lý luận 3 giai đoạn về tổ chức thực thi chính sách nâng cao năng suất chất lượng của chính quyền cấp tỉnh.
  • Phân tích rõ thực trạng phát triển của 5.910 doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Đắk Lắk với 53,53% thuộc lĩnh vực thương mại dịch vụ.
  • Đánh giá khách quan những mặt tích cực trong công tác tuyên truyền và chỉ ra điểm nghẽn về xây dựng mô hình điểm so với thực tiễn tỉnh Lâm Đồng.
  • Làm rõ 4 nhóm nguyên nhân cốt lõi từ hạn chế nội sinh của doanh nghiệp đến sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa các cơ quan hành chính.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao gắn liền với các mốc chỉ tiêu định lượng cụ thể hướng đến năm 2020.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc giúp Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk và các sở ban ngành đổi mới phương thức điều hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Trong giai đoạn tiếp theo đến năm 2020, các cơ quan ban ngành cần nhanh chóng ban hành quy chế phối hợp liên ngành, phân bổ nguồn vốn quỹ thỏa đáng và đẩy mạnh tư vấn tại chỗ để nâng tầm thương hiệu nông sản Đắk Lắk trên trường quốc tế.