Chương 1. Cơ sở lý luận về tổ thực thi chính sách nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ của chính quyền cấp tỉnh. Phân tích thực trạng tổ chức thực thi chính sách nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chính quyền tỉnh Đắk Lắk. Giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chính quyền tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020.
15 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH NÂNG CAO NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƢỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH 1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Có nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các quốc gia khác nhau, trong những giai đoạn phát triển khác nhau, do những ngành nghề khác nhau, khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể không giống nhau. Tuy nhiên ở phần lớn các quốc gia trên thế giới, có hai tiêu chí phổ biến để phân biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ là quy mô vốn và số lượng lao động.
Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực sự lâm vào những hoàn cảnh khó khăn nên cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tại nghị định này, khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được bổ sung và làm rõ như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 100 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình không quá 300 người. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành 3 cấp: Siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là yếu tố ưu tiên) cụ thể như bảng 1. Bảng tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động nguồn vốn động nguồn vốn động Khu vực (Ngƣời) (Tỷ) (Ngƣời) (Tỷ) (Ngƣời) Từ trên 10 I.
Nông, lâm Từ trên 20 Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng người đến nghiệp và tỷ đồng đến người đến trở xuống trở xuống dưới 200 thủy sản 100 tỷ đồng 300 người người Từ trên 10 II. Công Từ trên 20 Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng người đến nghiệp và tỷ đồng đến người đến trở xuống trở xuống dưới 200 Xây dựng 100 tỷ đồng 300 người người Từ trên 10 III. Thƣơng Từ 10 tỷ Từ trên 50 10 người 10 tỷ đồng người đến mại và dịch đồng đến người đến trở xuống trở xuống dưới 50 vụ 50 tỷ đồng 100 người người Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ Tùy theo tính chất tác động, mục tiêu sử dụng mà khái niện này có thể được cụ thể hóa theo các chỉ tiêu trên cho phù hợp. Việc đưa ra khái niệm như vậy là khá phù hợp trong điều kiện hoàn cảnh hiện tại, giúp cho các nhà quản lý thống nhất trong các nguyên tắc ban hành chính sách và quy trình quản lý.
Ngoài ra một số tổ chức, cá nhân khác trong nền kinh tế cũng căn cứ vào đó để dễ dàng đưa các quyết sách quan trọng cho tổ chức mình. Ví dụ như các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các trung tâm tư vấn… và ngay cả bản thân doanh nghiệp cũng có thể biết được doanh nghiệp mình thuộc đối tượng được hưởng những ưu đãi nào để có thể tiếp cận các hỗ trợ một cách rõ ràng. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ có một số đặc điểm chủ yếu sau: 17 Thứ nhất, với quy mô kinh doanh không lớn, bộ máy gọn nhẹ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng khởi nghiệp và có tính năng động cao. Thứ hai, các nguồn lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm các yếu tố về vốn, về công nghệ và về mặt bằng sản xuất kinh doanh, lao động hạn chế: - Yếu tố vốn: vốn đầu tư và vốn bổ sung cho chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp không nhiều.
Việc tiếp cận được nguồn vốn vay thông qua các tổ chức tín dụng là rất khó khăn. - Yếu tố công nghệ: chủ yếu các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng những loại thiết bị máy móc trung bình, mang tính trung gian, hoặc những công nghệ lỗi thời, đòi hỏi sử dụng nhiều lao động. - Yếu tố mặt bằng sản xuất kinh doanh: doanh nghiệp vừa và nhỏ không yêu cầu nhiều về mặt bằng sản xuất. Chủ yếu các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tận dụng diện tích sẵn có của bản thân, gia đình, bạn bè hoặc đi thuê với giá rẻ.
Diện tích sử dụng không nhiều nên dễ dàng tìm kiếm được. - Yếu tố lao động: phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia là những ngành nghề sử dụng nhiều lao động, nhân công giá rẻ. Do đó, kỹ năng và trình độ lao động ở mức thấp. Thứ ba, hạn chế về năng lực sản xuất kinh doanh.
Năng lực sản xuất, kinh doanh hiểu theo cách hiểu đơn giản nhất đó là khả năng sử dụng, khai thác và quản lý các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu của chủ thể. Đối với doanh nghiệp, năng lực này chủ yếu gồm có năng lực tài chính (khả năng huy động và sử dụng vốn), năng lực công nghệ, năng lực quản lý. Thứ tư, hình thức tổ chức các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất đa dạng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã. Thứ năm, ngành nghề kinh doanh đa dạng và độ phủ rộng lớn.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực kinh tế, và ở khắp các địa bàn từ miền núi, trung du, vùng sâu, vùng xa. Ngoài sản xuất và cung ứng các sản phẩm mang tính độc lập của doanh nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn tham gia liên kết với các doanh nghiệp lớn trong việc cung ứng nguyên vật liệu, thực hiện thầu phụ, từ đó dần hình thành mạng lưới công nghiệp hỗ trợ, và đặc biệt tạo ra mạng lưới vệ tinh cho phân phối sản phẩm. Chính sách nâng cao năng suất và chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm chính sách nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ Chính sách nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ là tổng thể các quan điểm, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp này.
Mục tiêu của chính sách nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ - Các sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tỉnh (đặc biệt là các sản phẩm, hàng hóa chủ lực) có chất lượng phù hợp hoặc tương đương với tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật của quốc gia và quốc tế. - Xây dựng, thúc đẩy phong trào năng suất và chất lượng thông qua việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến kết hợp với áp dụng các công cụ cải tiến năng suất và chất lượng; đổi mới công nghệ; xác lập quyền sở hữu trí tuệ… - Nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp vừa và nhỏ về năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Các chính sách bộ phận 1. Xây dựng mô hình điểm về nâng cao năng suất và chất lượng - Lựa chọn doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất sản phẩm, hàng hóa chủ lực xây dựng hệ thống quản lý chất lượng (HTQLCL) tiên tiến.
- Lựa chọn doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất sản phẩm, hàng hóa chủ lực áp dụng công cụ cải tiến năng suất và chất lượng. - Lựa chọn và hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ xây dựng, áp dụng và công bố tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và đánh giá sự phù hợp. - Lựa chọn và hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tham dự các giải thưởng chất lượng quốc gia và quốc tế. - Lựa chọn và hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ.
- Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ xác lập quyền sở hữu công nghiệp, giống cây trồng mới. Thông tin tuyên truyền và tập huấn kiến thức - Phát hành tài liệu, cẩm nang về năng suất và chất lượng của sản phẩm, hàng hóa. - Phổ biến kiến thức, cung cấp thông tin về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và đánh giá sự phù hợp. - Tập huấn kiến thức về hệ thống quản lý chất lượng, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng.
Đào tạo nguồn nhân lực và phát triển tổ chức đánh giá sự phù hợp - Lựa chọn và đào tạo đội ngũ chuyên gia về năng suất và chất lượng của tỉnh. - Lựa chọn và đào tạo đội ngũ chuyên gia tư vấn, đánh giá hệ thống quản lý chất lượng. - Hỗ trợ tham quan học tập kinh nghiệm trong và ngoài nước về tổ chức thực thi chính sách nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ của chính quyền cấp tỉnh. - Hỗ trợ xây dựng phòng thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Tổ chức thực thi chính sách nâng cao năng suất và chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ của chính quyền cấp tỉnh 1. Khái niệm tổ chức thực thi chính sách nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của DNVVN của chính quyền cấp tỉnh Tổ chức thực thi chính sách nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ của chính quyền cấp tỉnh là quá trình triển khai các nội dung của chính sách nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức của bộ máy chính quyền cấp tỉnh nhằm hiện thực hóa những mục tiêu và giải pháp chính sách đã đề ra.