CHƯƠNG 1: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NSLĐ CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm lao động Theo C.Mác, “Lao động là hoạt động cơ bản của con người. Trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,… Tuỳ theo lĩnh vực, tính chất hoạt động mà lao động được phân chia thành lao động sản xuất kinh doanh, lao động khoa học, lao động văn hoá, nghệ thuật,… Những người tham gia hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội được gọi là người lao động”. Theo Văn phòng Quốc hội, Cơ sở dữ liệu Bộ luật Lao động [6, 1994], “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước.
Lao động là điều kiện chủ yếu tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa xã hội. Nó là nhân tố quyết định bất cứ quá trình sản xuất nào”. Như vậy động lực của quá trình phát triển kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người. Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế, xã hội.
Như vậy, Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội. Lao động là hoạt động đặc trưng nhất, là hoạt động sáng tạo của con người. Trong kinh tế học, lao động được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hoá. Người có nhu cầu về hàng hoá này là người sản xuất còn người cung cấp hàng hoá này là người lao động.
Giá các của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động. Mức tiền công chính là mức giá của lao động. Lao động là hoạt động có mục đích của con người, là quá trình sức lao động tác động lên đối tượng lao động thông qua tư liệu sản xuất nhằm tạo nên những vật phẩm, những sản phẩm theo mong muốn. Vì vậy, lao động là điều kiện cơ bản và quan trọng nhất trong sự phát triển của xã hội loài người.Phạm Công Đoàn – TS.Nguyễn Cảnh Lịch [tr131, 2013], Giáo trình Kinh tế doanh nghiệp Thương mại: “Lao động trong doanh nghiệp thương mại là bộ phận lao động xã hội cần thiết được phân công thực hiện quá trình lưu thông hàng hóa.
Bao gồm lao động thực hiện quá trình mua bán, vận chuyển, đóng gói, chọn lọc, bảo quản và quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mục đích lao động của họ là nhằm đưa hàng hóa từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng”. 7 Như vậy, Lao động trong doanh nghiệp thương mại là bộ phận lao động xã hội cần thiết được phân công thực hiện quá trình lưu thông hàng hóa.2 Năng suất lao động.1 Khái niệm NSLĐ. NSLĐ là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động để sản xuất ra nó.
NSLĐ là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới sự cạnh tranh, đặc biệt, NSLĐ phản ánh yếu tố chất lượng người lao động – yếu tố cốt lõi của sự phát triển trong cạnh tranh toàn cầu, sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức hiện nay. NSLĐ phản ánh năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm, lượng giá trị sử dụng (hay lượng giá trị) được tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay đo bằng lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. NSLĐ là chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, một đơn vị sản xuất, hay của một phương thức sản xuất. NSLĐ được quyết định bởi nhiều nhân tố, như trình độ thành thạo của người lao động, trình độ phát triển khoa học và áp dụng công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và tính hiệu quả của các tư liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên.
Theo GS – PTS.Nguyễn Đình Phan [tr6,2009], dịch theo từ điển Oxford, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội: “Năng suất là tính hiệu quả của hoạt động sản xuất được đo bằng việc so sánh giữa khối lượng sản xuất trong những thời gian hoặc nguồn lực được sử dụng để tạo ra nó”.Phạm Công Đoàn – TS.Nguyễn Cảnh Lịch [tr137, 2013], Giáo trình Kinh tế doanh nghiệp Thương mại: “NSLĐ trong doanh nghiệp thương mại là mức tiêu thụ hàng hóa bình quân của một nhân viên bán hàng trong một đơn vị thời gian”.2 Khái niệm nâng cao năng suất lao động. Nâng cao NSLĐ là tiết kiệm lao động sống và lao động vật hóa, là giảm tỉ lệ lao động vật hóa sao cho tổng hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm giảm xuống. Tăng NSLĐ là một quy luật của loại hình thái kinh tế - xã hội. Theo Mác: “ NSLĐ là nhân tố quyết định sự thắng lợi của chế độ xã hội”.
Nói một cách cụ thể: Nâng cao NSLĐ là tăng năng suất sản xuất của người lao động hay nói cách khác là tăng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết, kèm theo nâng cao năng lực sản xuất là nâng cao về máy móc, khoa học tiên tiến để làm tăng sản phẩm. 8 Nâng cao NSLĐ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế đến việc tạo ra giá trị thặng dư, tạo điều kiện cho tích lũy tái đầu tư và nâng cao thu nhập, sức mua có khả năng thanh toán và cải thiện đời sống.Mác nâng cao NSLĐ là “Sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất của lao động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, sao cho số lượng lao động ít hơn mà lại còn có được sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn”.3 Phân loại năng suất lao động Xét theo phạm vi: NSLĐ chia làm hai loại NSLĐ cá nhân và NSLĐ xã hội. NSLĐ cá nhân NSLĐ cá nhân là hiệu quả sản xuất của cá nhân người lao động trong một đơn vị thời gian. NSLĐ cá nhân có vai trò lớn trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Việc tăng hay giảm NSLĐ cá nhân phần lớn quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tăng NSLĐ cá nhân có ý nghĩa là giảm chi phí lao động sống dẫn đến làm giảm giá trị cho một đơn vị sản phẩm, giá thành sản xuất giảm, tăng lợi nhuận của công ty. NSLĐ cá nhân chủ yếu phụ thuộc vào bản thân người lao động như trình độ, tay nghề, sức khỏe, sự thành thạo trong công việc, tuổi tác và công cụ lao động mà người lao động đó sử dụng là công cụ thủ công hay cơ khí, là thô sơ hay hiện đại. NSLĐ xã hội NSLĐ xã hội là mức năng suất chung của một nhóm người hoặc của tất cả cá nhân trong xã hội.
Vì vậy có thể khẳng định NSLĐ xã hội là chỉ tiêu giúp ta đánh giá chính xác thực trạng công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như phạm vi toàn xã hội. Trong điều kiện hiện nay, NSLĐ xã hội ở phạm vi vĩ mô được hiểu như là NSLĐ của quốc gia, phản ánh tổng giá trị sản xuất trên một người lao động cụ thể. Nó là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá sức mạnh kinh tế của một nước và so sánh giữa các nước. NSLĐ tăng lên khi và chỉ khi cả chi phí lao động và lao động quá khứ cũng giảm, tức là đã có sự tăng lên của NSLĐ cá nhân và tiết kiệm vật tư, nguyên liệu trong sản xuất.
NSLĐ xã hội không chỉ phụ thuộc vào công cụ lao động, trình độ của người lao động mà còn phụ thuộc rất nhiều vào ý thức lao động sản xuất của người lao động, điều kiện tự nhiên, điều kiện lao động, bầu không khí văn hóa.2 Hệ thống chỉ tiêu tính NSLĐ.1 Chỉ tiêu tính NSLĐ bằng hiện vật Chỉ tiêu này dùng sản lượng hiện vật của từng loại sản phẩm để biểu hiện mức NSLĐ của một công nhân. 9 Công thức tính: Q W= L Trong đó: - W là mức NSLĐ của một người lao động. - Q là tổng sản lượng tính bằng hiện vật. - L là tổng số lao động.
Ưu điểm: Biểu hiện mức NSLĐ một cách cụ thể, chính xác, không chịu ảnh hưởng của sự biến động về giá cả. Có thể so sánh mức NSLĐ giữa doanh nghiêp hoặc các nước khác nhau theo một loại sản phẩm được sản xuất ra. Đánh giá trực tiếp được hiệu quả của lao động. Nhược điểm: Chỉ tiêu này chỉ tính cho thành phẩm mà không tính được cho các sản phẩm dở dang nên không phản ánh đầy đủ sản lượng của công nhân.
Vì Q chỉ tính đến thành phẩm nên mức NSLĐ tính được chưa phản ánh đúng hiệu quả của lao động đã hao phí cho toàn bộ khối lượng sản phẩm tạo ta trong kỳ của doanh nghiệp. Vì vậy các ngành có tỷ trọng bán thành phẩm lớn không áp dụng được chỉ tiêu này. Chỉ dùng để tính cho một loại sản phẩm nhất định nào đó, không thể dùng làm chỉ tiêu tổng hợp tính cho nhiều loại sản phẩm nên không thể so sánh mức NSLĐ giữ các ngành có các loại sản phẩm khác nhau, cũng như không thể so sánh được giữa các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm.2 Chỉ tiêu tính NSLĐ bằng giá trị. Chỉ tiêu này dùng sản lượng bằng tiền của tất cả sản phẩm thuộc doanh nghiệp (ngành) sản xuất ra để biểu hiện mức NSLĐ của một lao động Công thức tính: Q W= L Trong đó: - W là mức NSLĐ của một lao động (tính bằng tiền).
- Q là giá trị tổng sản lượng, tổng giá trị gia tăng hay tổng mức doanh thu của doanh nghiệp. - L là tổng số lao động. Ưu điểm Phản ánh tổng hợp hiệu quả của lao động, cho phép tính cho các loại sản phẩm khác nhau, khắc phục được nhược điểm của chỉ tiêu tính bằng hiện vật.