Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khái niệm về lợn bản địa Khái niệm lợn bản địa: Việt Nam là nước có nhiều giống lợn rất đặc trưng cho từng vùng sinh thái như vùng đồng bằng châu thổ có lợn Ỉ, lợn Móng Cái, lợn Lang Hồng. Các vùng núi và trung du có các giống lợn Mường Khương, lợn Mẹo (lợn Bản H’Mông), lợn Táp Ná, lợn Hạ Lang, Lợn Vân Pa… Qua đây có thể cho thấy lợn bản địa là lợn có nguồn gốc, xuất sứ tại các địa phương, có đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất tương đối đồng nhất, được người dân chăn nuôi trong một thời gian dài tại địa phương.
Lợn bản địa ở Hoà Bình là giống lợn đã có tại đây từ hàng trăm năm, do có nhiều ưu điểm nên được các dân tộc Mường, Dao trong tỉnh Hoà Bình chăn nuôi đã từ lâu đời. Giống lợn và phương thức ăn chăn nuôi 1. Giống lợn Theo Tổng cục thống kê (2018) thì Việt Nam là một trong những nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển. Số đầu lợn trong cả nước có sự biến động lớn giữa các năm.
Từ năm 2011, tổng đàn lợn là 27,06 triệu con, tăng lên cao nhất năm 2016 với 29,08 triệu con và có xu hướng giảm dần ở 2 năm tiếp theo. Tính đến năm 2018, tổng số đầu lợn trong cả nước đạt 27,33 triệu con, trong đó 23,27 triệu lợn thịt, 3,99 triệu lợn nái và còn lại là lợn đực giống. Tuy nhiên, mật độ lại không đồng đều giữa các vùng. Đồng bằng Sông Hồng chiếm 25%, Miền núi và trung du phía Bắc chiếm 26%, Bắc trung bộ và duyên hải miền trung 18%, Tây Nguyên 7&, Đông Nam Bộ 12% và đồng bằng Sông Cửu Long 12% (2018).
Giống lợn nái địa phương, tại các tỉnh phía Bắc các giống như Móng Cái, Mường Khương, nhóm lợn Lang vẫn được sử dụng phổ biến trong sản xuất. Tuy nhiên, trong nhiều năm do chưa được chú ý chọn lọc và cải tiến năng suất nên năng suất, chất lượng chưa cao. Tăng khối lượng dưới 300 g/con/ngày, tỷ lệ nạc từ 37- 38%, ước tính nước ta hiện nay có khoảng 540 ngàn lợn nái nội. Hiện nay, đàn lợn đực giống chủ yếu là lợn ngoại và lợn lai, còn lợn nội hầu như rất ít.
Trong đó, về cơ cấu đàn đực giống giữa các miền cũng khác nhau: miền Nam lợn Pietrain và lai Pietrain x Duroc chiếm tỷ lệ cao (trên 68%), còn lại là các giống thuần Yorkshire, Landrace, Duroc, lai Yorkshire x Landrace, Pietrain x Landrace và Master; miền Bắc chủ yếu là con lai Landrace x Yorkshire; sau đó là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 các giống thuần Landrace, Yorkshire, Duroc và một số giống của PIC. Phương thức chăn nuôi Đặc điểm nổi bật nhất trong thời gian qua của ngành chăn nuôi lợn nước ta là bên cạnh phương thức chăn nuôi truyền thống, chăn nuôi trang trại tập trung hình thành và có xu hướng ngày càng phát triển, nhất là từ khi có nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại. Đây là xu thế phổ biến trên toàn thế giới và là hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế quan trọng trong sản xuất chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng ở nước ta nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm thịt lợn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng. Việc sử dụng các phương thức chăn nuôi khác nhau tùy vào điều kiện kinh tế và trình độ chăn nuôi của từng hộ gia đình, từng đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi vùng.
Hiện nay ở nước ta đang tồn tại cả ba phương thức chăn nuôi lợn, gồm: Chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ Đây là phương thức chăn nuôi phổ biến trong cả nước, chiếm khoảng 75 – 80 % về đầu con, nhưng sản lượng chỉ chiếm khoảng 65 – 70 % tổng sản lượng thịt lợn sản xuất cả nước; quy mô chăn nuôi dao động từ 1-10 con/hộ; thức ăn đầu tư chủ yếu là tận dụng sản phẩm nông nghiệp sản xuất và khai thác tại chỗ các sản phẩm trồng trọt và sản phẩm ngành nghề phụ (làm đậu, nấu rượu, làm mì) do đó giảm chi phí đầu tư thức ăn; con giống chủ yếu là giống địa phương hoặc giống có tỷ lệ máu nội cao (F1: nội x ngoại). Phương thức này có năng suất chăn nuôi thấp, khả năng tham gia thị trường của sản phẩm thấp do lợi nhuận chia cho thương lái (chi phí thu gom, vận chuyển, kiểm dịch và chất lượng). Đặc biệt với phương thức chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ, các cơ quan chức năng cũng như người chăn nuôi không thể kiểm soát được đầu vào (giống, thức ăn) và đầu ra (lợn giống, lợn thịt) trong chăn nuôi lợn, do đó gây nên những rủi ro tiềm tàng về con giống, về dịch bệnh, về vệ sinh an toàn thực phẩm… nên có thể nói rằng chăn nuôi lợn Việt Nam chưa có tính bền vững cao. Phương thức chăn nuôi lợn nông hộ nhỏ lẻ đang có xu hướng giảm dần và trong tương lai sẽ không tồn tại hoặc được cải tiến dần thành chăn nuôi gia trại.
Chăn nuôi gia trại Đây là phương thức chăn nuôi có sự kết hợp những kinh nghiệm chăn nuôi truyền thống và kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến. Mục đích chăn nuôi đã mang đậm tính hàng hóa. Đặc trưng của phương thức này là: quy mô đàn lợn từ 10 - 30 nái, hoặc từ 10 - 50 lợn thịt/gia trại có mặt thường xuyên; ngoài các phụ phẩm nông nghiệp thì Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 có khoảng 40 % thức ăn công nghiệp được sử dụng nuôi lợn; con giống chủ yếu là con lai có từ 50-75 % máu lợn ngoại trở lên; công tác thú y và chuồng trại đã được chú trọng. Phương thức chăn nuôi nuôi này phổ biến ở các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng (Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hà Tây, Hưng Yên, Hà Nam) và phát triển mạnh hầu khắp trong những năm gần đây.
Năng suất chăn nuôi theo phương thức gia trại tiến bộ hơn nhiều so với phương thức chăn nuôi nông hộ, tuy nhiên năng suất vẫn chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường nhất là nhu cầu về chất lượng thịt. Chăn nuôi trang trại Phương thức chăn nuôi này được phát triển mạnh trong những năm gần đây, tính đến năm 2017, cả nước có 17.475 trang trại chăn nuôi lợn (trong đó 4.990 trang trại lợn nái và 12.485 trang trại lợn thịt chiếm 42,2%/tổng số trang trại chăn nuôi. Trong đó, miền Bắc có 7182 trang trại, chiếm 41,1%, miền Nam có 10.293 trang trại, chiếm 58,9%. Vùng có nhiều trang trại chăn nuôi lợn là Đông Nam Bộ: 6081 trang trại, chiếm 34,8%; tiếp đến là Đồng bằng sông Hồng: 4508 trang trại, chiếm 25,8%; Đồng bằng sông Cửu Long: 2412 trang trại, chiếm 13,8%; Đông Bắc: 1240 trang trại, chiếm 7,1%; Bắc Trung Bộ: 1153 trang trại, chiếm 6,6%; Tây Nguyên 996 trang trại, chiếm 5,7%.
Các vùng ít phát triển là Tây Bắc, chỉ có 262 trang trại, chiếm 1,5% tổng số trang trại chăn nuôi lợn trên toàn quốc. Phương thức chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 15-20% về đầu con, 25-30% về sản lượng thịt; quy mô từ trên 50 nái hoặc trên 300 lợn thịt có mặt thường xuyên (có trường hợp 11 ngàn lợn nái bố mẹ/1 trại). Yêu cầu kỹ thuật trong chăn nuôi lợn công nghiệp rất khắt khe, chỉ có thể sử dụng thức ăn công nghiệp, con giống chủ yếu là lợn ngoại 2 máu hoặc 3 máu, áp dụng công nghệ chuồng trại tiên tiến như: chuồng lồng, chuồng sàn, chuồng có hệ thống làm mát và sưởi ấm cho lợn con, hệ thống máng ăn, núm uống tự động…. Nhờ đó mà năng suất chăn nuôi được nâng cao, khối lượng xuất chuồng bình quân trên 90 kg/con.
Chăn nuôi công nghiệp bằng các giống cao sản nhập ngoại là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho các thành phố lớn hiện nay và người tiêu dùng cả nước cũng như xuất khẩu trong tương lai. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì chăn nuôi lợn theo phương thức công nghiệp ở nước ta vẫn còn trong tình trạng thấp kém cả về trình độ công nghệ và năng suất chăn nuôi, khả năng cạnh tranh sản phẩm thịt lợn còn thấp do việc thiếu quản lý hàm lượng các hoạt chất sinh học trong thức ăn công nghiệp, kỹ thuật giết mổ và chế biến thịt lợn còn nhiều hạn chế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế đã dành nhiều công sức cho việc nghiên cứu các giống lợn địa phương của Việt Nam (Lê Viết Ly, 1999; Trần Thanh Hải và Lê Đình Phùng, 2009). Đặc điểm nổi bật của các giống lợn địa phương là thích nghi với các điều kiện môi trường sinh thái từng vùng, với các điều kiện chăn nuôi nông hộ, có khả năng kháng bệnh cao, sử dụng được thức ăn giàu chất xơ nhưng nghèo dinh dưỡng, thịt thơm ngon (Lê Viết Ly, 1999; Nguyễn Ngọc Phục và cs, 2010).
Các tỉnh miền núi đang sở hữu nguồn gen lợn bản quý báu, đó là giống lợn Bản: Mường Lay (lợn 14 vú), lợn Hạ Lang, lợn Táp Ná, Lợn Mẹo.Theo điều tra sơ bộ các giống lợn địa phương được người dân các tỉnh miền núi nuôi tại nông hộ theo phương thức thả rông, tự kiếm ăn và không có chuồng trại. Do nuôi chăn thả tự do nên năng xuất không cao, tình hình dịch bệnh không kiểm soát được và thực tế đã có dịch bệnh xảy ra vì vậy việc phát triển đàn cũng gặp khó khăn. Một số hiểu biết về lợn Bản Lợn Bản là nguồn gen quý được nuôi khắp hầu hết tại các tỉnh miền núi phía bắc, trong đó khá phổ biến ở Điện Biên, Hòa Bình, Sơn La. Ở Hòa Bình, lợn Bản thể hiện rõ nét thông qua đàn lợn nái có đặc điểm là lông đen, dài, cứng, da có màu đen tuyền, có trường hợp đen cả mõm và vú, bốn chân.
Tai lợn nhỏ, dựng đứng, chân nhỏ, đi bằng móng, mắt tinh nhanh, mặt nhỏ, mõm dài, nhọn. Đuôi dài nhỏ, lưng hơi võng hoặc thẳng, mình ngắn, lợn trưởng thành bụng gọn, không sệ, vú to và nổi rõ. Dáng lợn đi nhanh nhẹn, khả năng leo đồi rừng khoẻ và nhanh, đặc biệt có khả năng luồn lách trong các bụi rậm và trốn chạy nhanh, khả năng rũi đất rất khoẻ để tìm kiếm thức ăn.