Tổng quan nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vai trò trụ cột trong việc cung cấp thực phẩm và phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn. Theo thống kê chính thức, tổng đàn lợn cả nước năm 2015 đạt 27,1 triệu con, tăng trưởng 2,8% so với năm 2014. Tại tỉnh Thái Bình, chăn nuôi lợn là ngành mũi nhọn với tổng đàn duy trì thường xuyên trên 1,0 triệu con, đạt quy mô 1.707.000 con vào năm 2015, trong đó có 194.000 lợn nái và 851.310 lợn thịt cùng 69 trang trại quy mô lớn. Mặc dù số lượng tăng trưởng nhanh, thực trạng sản xuất tại địa phương vẫn đối mặt với rào cản lớn về chất lượng con giống: đàn nái nội Móng Cái còn chiếm tỷ lệ cao, đàn nái ngoại và nái lai chiếm tỷ lệ thấp, dẫn đến năng suất sinh sản chưa tối ưu và tỷ lệ nạc chưa đáp ứng tốt nhu cầu thị trường.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện năng suất sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng trên đàn lợn nái ông bà gồm ba tổ hợp giống Landrace, Yorkshire và VCN11, đồng thời theo dõi hiệu quả chuyển hóa thức ăn của đàn con lai thương phẩm. Đề tài được triển khai tại Trung tâm giống lợn Đông Mỹ thuộc Công ty Cổ phần Giống chăn nuôi Thái Bình trong giai đoạn từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2016, kế thừa chuỗi dữ liệu sản xuất từ năm 2012 đến năm 2015. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp tối ưu hóa chỉ số tiêu tốn thức ăn ở mức 6,37 - 6,56 kg trên mỗi kilôgam lợn con cai sữa, nâng cao số con sơ sinh sống lên trên 10,98 con mỗi ổ, từ đó cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác để xây dựng đàn nái bố mẹ chất lượng cao phục vụ chiến lược nạc hóa đàn lợn khu vực đồng bằng sông Hồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết ưu thế lai trong chăn nuôi gia súc để phân tích khả năng tổ hợp giữa các dòng thuần Landrace, Yorkshire và dòng tổng hợp VCN11 (tạo thành từ dòng VCN01 Yorkshire và VCN02 Landrace). Cơ sở sinh lý học sinh sản dựa trên trục nội tiết điều hòa thần kinh - thể dịch gồm vùng dưới đồi, thùy trước tuyến yên và buồng trứng, thông qua các hormone GnRH, FSH, LH, Estrogen và Progesterone nhằm kiểm soát quá trình rụng trứng kéo dài từ 10 đến 15 giờ.

Hệ thống lý thuyết di truyền số lượng chỉ ra rằng các tính trạng sinh sản ở lợn nái có hệ số di truyền thấp nhưng có mối tương quan kiểu gen chặt chẽ với nhau: hệ số di truyền của số con sơ sinh trên lứa đạt 0,13; số con cai sữa trên lứa đạt 0,12; khối lượng sơ sinh trên con đạt 0,15 và khối lượng cai sữa toàn ổ đạt 0,17. Bên cạnh đó, tương quan kiểu gen giữa số con sơ sinh sống và số con cai sữa đạt mức cao từ 0,83 đến 0,88. Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu bao gồm: tuổi phối giống lần đầu, số con sơ sinh sống trên ổ, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa, và chỉ số tiêu tốn thức ăn trên một kilôgam lợn con cai sữa.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài khảo sát trên tổng cỡ mẫu 197 lợn nái ông bà, bao gồm 102 nái VCN11 phối tinh đực L19, 41 nái Landrace phối đực Yorkshire và 54 nái Yorkshire phối đực Landrace. Đối với đàn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi, nghiên cứu bố trí thí nghiệm trên 90 cá thể chia đều cho 3 công thức lai, mỗi công thức gồm 3 ổ với 10 con mỗi ổ và lặp lại 3 đợt.

Phương pháp chọn mẫu sử dụng kỹ thuật thu thập toàn bộ dữ liệu lưu trữ trong sổ phối giống và sổ theo dõi sinh sản tại cơ sở từ năm 2012 đến năm 2015, kết hợp phương pháp bố trí thí nghiệm phân lô so sánh ngẫu nhiên có lặp lại đối với đàn lợn con. Lý do lựa chọn mô hình tuyến tính tổng quát trên phần mềm chuyên dụng SAS 9 và Excel 2007 là nhằm bóc tách chính xác ảnh hưởng của các nhân tố cố định bao gồm 3 nhóm giống, 6 cấp lứa đẻ và 2 mùa vụ (vụ Đông - Xuân từ tháng 10 đến tháng 3 và vụ Hè - Thu từ tháng 4 đến tháng 9) đối với các biến năng suất sinh sản. Kiểm định Duncan và phép thử t-test được áp dụng để so sánh sự sai khác giữa các giá trị trung bình với mức ý nghĩa thống kê xác định từ P < 0,05 đến P < 0,001. Thời gian theo dõi thực địa và xử lý dữ liệu kéo dài liên tục trong 12 tháng từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, năng suất sinh sản chung của cả ba tổ hợp nái ông bà đạt mức rất khả quan và tương đương nhau ở các chỉ tiêu số lượng đầu con. Số con sơ sinh trên mỗi ổ của nái Landrace, VCN11 và Yorkshire lần lượt đạt 11,51 con; 11,54 con và 11,54 con. Số con sơ sinh sống trên mỗi ổ tương ứng đạt 11,07 con; 10,98 con và 11,16 con. Tỷ lệ sơ sinh sống duy trì ở mức cao từ 95,70% ở nái VCN11 đến 97,03% ở nái Yorkshire.

Thứ hai, tuổi thành thục sinh dục và thể vóc sinh sản được kiểm soát tốt thông qua quy trình hậu bị hợp lý. Tuổi phối giống lần đầu của nái Landrace đạt 238,90 ngày; Yorkshire đạt 241,30 ngày và VCN11 đạt 250,30 ngày. Tương ứng, tuổi đẻ lứa đầu ghi nhận ở mức 353,70 ngày đối với Landrace; 356,10 ngày đối với Yorkshire và 364,40 ngày đối với VCN11. Khối lượng sơ sinh toàn ổ của nái Yorkshire đạt 15,04 kg, cao hơn rõ rệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với nái Landrace (14,27 kg) và nái VCN11 (14,29 kg).

Thứ ba, hiệu quả sử dụng thức ăn ở đàn nái và đàn con lai sau cai sữa đạt chỉ số kinh tế cao. Tiêu tốn thức ăn để sản xuất 1 kg lợn con cai sữa của nái VCN11 đạt mức thấp nhất là 6,37 kg, nái Yorkshire đạt 6,42 kg và nái Landrace là 6,56 kg. Trong giai đoạn sau cai sữa đến 60 ngày tuổi, hiệu quả chuyển hóa thức ăn (FCR) của con lai từ mẹ VCN11 đạt 1,17 kg thức ăn trên mỗi kilôgam tăng khối lượng, trong khi con lai từ mẹ Landrace đạt 1,21 kg và Yorkshire đạt 1,26 kg (P > 0,05).

Thứ tư, lứa đẻ và mùa vụ là hai yếu tố ngoại cảnh tác động sâu sắc nhất đến năng suất nái. Năng suất sinh sản tăng dần từ lứa 1, đạt đỉnh cao nhất ở lứa 3 đến lứa 5 (với số con sơ sinh sống trên 11,5 con mỗi ổ) và duy trì ổn định đến lứa 6. Xét theo mùa vụ, vụ Đông - Xuân cho tỷ lệ sơ sinh sống và khối lượng sơ sinh cao hơn vụ Hè - Thu từ 3,5% đến 5,2% do hạn chế được tác động tiêu cực của stress nhiệt.

Thảo luận kết quả

Thành tích sinh sản vượt trội của dòng nái tổng hợp VCN11 khẳng định ưu thế lai tích hợp từ hai dòng cụ kỵ Landrace và Yorkshire, giúp đàn nái phát huy khả năng tiết sữa và khéo nuôi con. Kết quả số con sơ sinh sống trên ổ trong nghiên cứu này (10,98 - 11,16 con) cao hơn rõ rệt so với các công bố trước đây trên đàn nái ngoại tại miền Bắc như báo cáo của một số tác giả trong nước đạt từ 9,11 đến 9,70 con. Mức tiêu tốn thức ăn 6,37 - 6,56 kg/kg lợn cai sữa phản ánh khẩu phần cân đối với mức năng lượng 3.000 kcal ME/kg và 15% protein thô trong giai đoạn nuôi con đã đáp ứng tối ưu nhu cầu trao đổi chất.

Để trực quan hóa dữ liệu nghiên cứu, toàn bộ diễn biến năng suất có thể được minh họa qua biểu đồ đường biểu diễn sự biến thiên số con sơ sinh sống qua 6 lứa đẻ liên tiếp, kết hợp cùng bảng ma trận hai chiều thể hiện mức độ tương tác giữa yếu tố giống và mùa vụ. Cách trình bày này giúp các nhà quản lý trang trại dễ dàng nhận diện điểm rơi năng suất và lập kế hoạch thải loại đàn nái sau lứa đẻ thứ 6 một cách khoa học.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy trình dinh dưỡng và áp dụng chế độ bồi thực trước phối giống. Trưởng ban Kỹ thuật trang trại cần chỉ đạo tăng lượng thức ăn lên mức 2,5 - 3,0 kg/con/ngày trong vòng 14 ngày trước khi phối giống với khẩu phần đạt 14 - 15% protein thô, nhằm mục tiêu tăng số trứng rụng và nâng tỷ lệ thụ thai lứa đầu lên trên 92% trong quý 1 tới.

Thứ hai, nâng cấp công nghệ chuồng kín và kiểm soát vi khí hậu chống stress nhiệt mùa hè. Ban Quản lý các trại chăn nuôi cần tiến hành lắp đặt hệ thống giàn mát cooling pad và quạt thông gió công nghiệp, duy trì nhiệt độ chuồng nuôi ổn định ở ngưỡng 24 - 28°C và độ ẩm 65 - 75%, phấn đấu hạ tỷ lệ hao hụt lợn con sơ sinh trong vụ Hè - Thu xuống dưới 4,0% trong lộ trình 6 tháng tới.

Thứ ba, mở rộng quy mô khai thác và chuẩn hóa cơ cấu đàn nái ông bà VCN11. Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Giống chăn nuôi Thái Bình cần bố trí nguồn vốn để tăng đàn nái VCN11 từ 102 con lên 250 con trong giai đoạn 2016 - 2020, tạo ra trên 2.500 lợn cái hậu bị bố mẹ hàng năm cung ứng cho hệ thống trang trại vệ tinh toàn tỉnh.

Thứ tư, chuẩn hóa kỹ thuật phát hiện động dục và thao tác phối tinh kép. Kỹ thuật viên thụ tinh nhân tạo phải thực hiện nghiêm ngặt quy trình phối 2 lần tại thời điểm 24 và 36 giờ sau khi nái xuất hiện phản xạ đứng yên, kết hợp cho tiếp xúc trực tiếp với lợn đực thí điểm trên 10 tháng tuổi khoảng 15 phút mỗi ngày nhằm đạt mục tiêu số con cai sữa trên ổ đạt từ 10,5 con trở lên, hoàn thành đợt tập huấn chuyên sâu trong vòng 30 ngày.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các chủ trang trại và giám đốc doanh nghiệp chăn nuôi gia súc quy mô lớn. Tài liệu cung cấp cơ sở thực chứng về định mức tiêu tốn thức ăn 6,37 - 6,56 kg/kg lợn cai sữa, hỗ trợ tính toán giá thành sản xuất và xây dựng phương án khoán định mức kinh tế kỹ thuật chính xác cho từng chu kỳ sinh sản.

Nhóm thứ hai là đội ngũ kỹ sư chăn nuôi và cán bộ kỹ thuật thụ tinh nhân tạo tại các trung tâm giống. Luận văn cung cấp hướng dẫn chi tiết về kỹ thuật điều tiết tuổi phối giống lần đầu ở mức 238,90 - 250,30 ngày và kiểm soát thể trạng nái mang thai đạt khối lượng 120 - 140 kg khi phối giống.

Nhóm thứ ba là các giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Bác sĩ Thú y tại các trường đại học nông nghiệp. Công trình đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị về mô hình xử lý số liệu GLM trên SAS 9 và hệ phương pháp theo dõi 12 chỉ tiêu sinh sản tiêu chuẩn trên đàn lợn nái ngoại.

Nhóm thứ tư là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý ngành nông nghiệp cấp tỉnh. Dữ liệu luận văn là căn cứ khoa học vững chắc để xây dựng các đề án phát triển giống vật nuôi, thúc đẩy quá trình thay thế đàn nái Móng Cái năng suất thấp bằng các dòng nái lai ông bà chuyên dụng.

Câu hỏi thường gặp

Dòng lợn nái ông bà VCN11 có những đặc tính sản xuất nổi bật nào so với các giống thuần?
Nái VCN11 thể hiện ưu thế lai vượt trội với số con sơ sinh đạt 11,54 con mỗi ổ, tỷ lệ sơ sinh sống 95,70% và đặc biệt là chỉ số tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn cai sữa đạt mức thấp nhất 6,37 kg. Đàn con lai thương phẩm có hệ số chuyển hóa thức ăn FCR giai đoạn sau cai sữa đến 60 ngày tuổi đạt 1,17 kg, giúp tối ưu hóa hiệu quả chi phí thức ăn cho trang trại.

Mùa vụ khí hậu ảnh hưởng cụ thể như thế nào đến năng suất của đàn lợn nái?
Nhiệt độ cao trong vụ Hè - Thu gây ra stress nhiệt nghiêm trọng, làm giảm lượng thức ăn thu nhận của nái nuôi con, giảm 15 - 20% tỷ lệ thụ thai và làm tăng tỷ lệ chết phôi. Ngược lại, điều kiện mát mẻ vụ Đông - Xuân giúp tăng số con sơ sinh sống và tăng khối lượng sơ sinh toàn ổ thêm từ 3,5% đến 5,2% trên cùng một tổ hợp giống.

Thời điểm nào là thích hợp nhất để phối giống cho lợn nái đạt tỷ lệ thụ thai cao?
Thời điểm phối tinh đạt kết quả tối ưu là từ 24 đến 30 giờ tính từ khi lợn nái bắt đầu có biểu hiện chịu đực đứng yên. Kỹ thuật viên nên áp dụng phương pháp phối kép 2 lần, mỗi lần cách nhau từ 10 đến 12 giờ, giúp đón đầu quãng thời gian trứng rụng kéo dài 10 - 15 giờ và nâng tỷ lệ thụ thai đạt trên 95%.

Năng suất sinh sản của lợn nái biến động theo quy luật nào qua các lứa đẻ?
Năng suất sinh sản thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất do cơ thể nái chưa hoàn thiện hoàn toàn thể vóc, sau đó tăng nhanh ở lứa 2 và đạt đỉnh cao nhất ở các lứa 3, 4, 5 với số con sơ sinh sống trên 11,5 con mỗi ổ. Từ lứa đẻ thứ 6 trở đi, năng suất bắt đầu có xu hướng giảm dần, đòi hỏi trang trại phải có kế hoạch thay thế đàn nái già cỗi.

Chỉ số tiêu tốn thức ăn trên một kilôgam lợn cai sữa có ý nghĩa kinh tế ra sao?
Tiêu tốn thức ăn trên 1 kg lợn cai sữa phản ánh tổng hòa lượng thức ăn nái ăn trong giai đoạn mang thai, nuôi con và thức ăn tập ăn của lợn con chia cho tổng khối lượng lợn cai sữa. Chỉ số này dao động ở mức 6,37 - 6,56 kg trong nghiên cứu chứng minh đàn nái được khai thác hiệu quả, giúp tiết kiệm trực tiếp 5 - 10% chi phí giá thành con giống.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện và hệ thống hóa thành công năng suất sinh sản trên đàn 197 lợn nái ông bà thuộc ba tổ hợp Landrace, Yorkshire và VCN11 nuôi trong điều kiện thực tế tại Thái Bình.
  • Xác định số con sơ sinh trên mỗi ổ đạt bình quân từ 11,51 đến 11,54 con với tỷ lệ nuôi sống sơ sinh cao đạt 95,70% - 97,03%.
  • Chứng minh dòng nái VCN11 có khả năng tiết kiệm thức ăn vượt trội với 6,37 kg thức ăn/kg cai sữa và đàn con có FCR sau cai sữa đạt 1,17 kg.
  • Khẳng định quy luật chi phối của yếu tố lứa đẻ đạt đỉnh ở lứa 3 - 5 và ưu thế vượt trội của mùa vụ Đông - Xuân đối với năng suất đàn nái.
  • Thiết lập hệ thống giải pháp kỹ thuật bồi thực, kiểm soát tiểu khí hậu chuồng kín và phối kép mang tính ứng dụng cao cho sản xuất.

Đóng góp then chốt của luận văn là cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác khẳng định khả năng thích nghi và sức sản xuất vượt trội của dòng nái ông bà VCN11 tại đồng bằng sông Hồng. Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2017 - 2020 là tiếp tục theo dõi chu kỳ khai thác ở các lứa đẻ cao hơn và đánh giá phẩm chất thịt xẻ của các tổ hợp lợn thương phẩm 3 máu, 4 máu. Các cơ sở chăn nuôi và cơ quan quản lý nông nghiệp cần nhanh chóng ứng dụng bộ giải pháp quy trình kỹ thuật này vào thực tiễn để nâng cao năng suất đàn nái và tối đa hóa lợi nhuận kinh tế bền vững.