Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số 62.34.05.01) của nghiên cứu sinh Trương Quang Dũng, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Dũng và TS. Nguyễn Thanh Hội, bảo vệ năm 2008, mang tiêu đề: "Nâng cao năng lực quản trị giám đốc doanh nghiệp tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh".
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ quá trình chuyển đổi và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ Đại hội VI và nhất quán thực hiện qua các kỳ Đại hội VII, VIII, IX đến Đại hội X. Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2000) và Luật Doanh nghiệp năm 2005 (được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005) đã xác lập khung pháp lý bình đẳng cho khu vực kinh tế tư nhân. Nhờ các thủ tục đăng ký kinh doanh thông thoáng, số lượng doanh nghiệp tư nhân (DNTN) tại Thành phố Hồ Chí Minh tăng trưởng mạnh mẽ; riêng năm 2000, số DNTN thành lập mới tăng 590% so với năm 1999. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động bộc lộ khoảng trống quản trị nghiêm trọng:
- Luật Doanh nghiệp 2005 cho phép hầu hết cá nhân thành lập doanh nghiệp (trừ một số đối tượng hạn chế tại Điều 13) mà không đòi hỏi tiêu chuẩn pháp định về trình độ, kinh nghiệm chuyên môn hay năng lực quản trị, dẫn đến đội ngũ giám đốc DNTN xuất thân đa dạng từ tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công đến người hưu trí.
- DNTN mới được thừa nhận trong thời gian chưa dài nên phần lớn doanh nhân thiếu kinh nghiệm thương trường, chưa được tôi luyện trong môi trường cạnh tranh.
- Quản lý nhà nước còn bất cập khiến nhiều giám đốc có tâm lý e ngại rủi ro, thiên về đầu tư dạng "phi vụ", "đánh nhanh thắng nhanh", tìm kiếm lợi nhuận qua khai thác quan hệ cá nhân, gian lận hoặc trốn thuế.
- Những nhược điểm tâm lý xã hội như thói ham danh lợi cá nhân, thiếu kỷ cương, tùy tiện, cào bằng (như nhận định của TSKH Thái Duy Tuyên) làm suy giảm tính chuyên nghiệp, giảm độ tin cậy và tinh thần hợp tác.
Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào vai trò vĩ mô của kinh tế tư nhân, tranh luận về sở hữu, phân hóa giàu nghèo hoặc hoàn thiện quản lý nhà nước. Vấn đề năng lực quản trị của giám đốc DNTN chưa có công trình nghiên cứu sâu; các tiêu chí đánh giá năng lực còn mơ hồ khiến bản thân các giám đốc lúng túng khi tự định hướng hoàn thiện.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 4 nội dung cụ thể:
- Hệ thống những vấn đề lý luận về chức năng, nhiệm vụ, vai trò, kỹ năng của giám đốc DNTN trong nền kinh tế thị trường trong kỷ nguyên toàn cầu hóa.
- Đưa ra khái niệm năng lực và các yếu tố cấu thành năng lực của người giám đốc DNTN trên cơ sở lý luận về năng lực và các yếu tố cấu thành năng lực của người giám đốc doanh nghiệp nói chung.
- Chỉ ra những ưu điểm, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về năng lực quản trị của đội ngũ giám đốc DNTN trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên những phân tích, đánh giá thực trạng năng lực quản trị của một số giám đốc DNTN được khảo sát.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị cho người giám đốc DNTN trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
Đề tài giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu trọng tâm: (1) Bản chất năng lực quản trị của giám đốc DNTN được hiểu như thế nào và bao gồm những yếu tố cấu thành nào? (2) Thực trạng năng lực quản trị của giám đốc DNTN tại Thành phố Hồ Chí Minh đang ở mức độ nào, có những hạn chế và nguyên nhân cốt lõi gì? (3) Cần triển khai hệ thống giải pháp và kiến nghị nào để nâng cao năng lực quản trị cho đội ngũ này?
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực quản trị của giám đốc DNTN trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, đề tài khảo sát thực tế các giám đốc DNTN hoạt động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; về thời gian, nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu kinh tế - xã hội giai đoạn 2001–2007 và hoàn thành tổng kết năm 2008; về nội dung, tập trung vào năng lực cá nhân ở cấp độ hoàn thành nhiệm vụ quản trị doanh nghiệp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong quá trình xây dựng nền tảng nghiên cứu, tác giả đã điểm lại và kế thừa các hướng nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước:
Về lý thuyết quản trị và cấp bậc quản trị, tác giả trích dẫn mô hình phân bổ thời gian của T. A. Mahoney (1996) cho thấy nhà quản trị cấp cao dành 64% quỹ thời gian cho hoạch định và tổ chức; nghiên cứu của Phạm Xuân Lan (1998) về mức độ tham gia chức năng quản trị theo cấp bậc; lý thuyết 10 vai trò nhà quản trị của Henry Mintzberg (thuộc ba nhóm: liên kết cá nhân, thông tin, quyết định); và lý thuyết của James H. Ivancevich (2000) về ba nhóm kỹ năng cơ bản gồm kỹ năng bao quát, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng kỹ thuật.
Về bản chất tâm lý học của năng lực, luận án điểm lại các quan điểm kinh điển:
- Từ điển Tâm lý học (1998) phân định năng lực chung và năng lực riêng, đồng thời xác định năng lực làm việc là khả năng tiềm tàng của cá nhân nhằm hoàn thành hoạt động với hiệu suất xác định trong khoảng thời gian nhất định.
- Giáo trình Tâm lý học (dẫn luận quan điểm của V. I. Lenin và K. Marx) khẳng định năng lực là sản phẩm của lịch sử thông qua phân công lao động, chỉ rõ tư chất là điều kiện cần chứ không phải điều kiện đủ, và tri thức là nền tảng nhưng không đồng nhất hoàn toàn với năng lực.
- Công trình của GS.VS Nguyễn Cảnh Toàn, GS.TS Nguyễn Văn Lê và Nhà giáo Châu An (2001) phân chia năng lực thành 4 cấp độ: không có năng lực, có năng lực, có tài năng và thiên tài.
- Nhóm tác giả công trình Mỗi người tiềm ẩn một tài năng phân tích các mức độ năng lực, tài năng và thiên tài gắn với các chỉ số sinh học và trí tuệ (IQ).
Về các mô hình cấu trúc năng lực quản trị hiện đại:
- Richard E. Boyatzis (1982) xác định năng lực giải quyết công việc bao gồm động cơ, cá tính, kỹ năng, kiến thức và tự nhận thức trong mối quan hệ với môi trường bên trong và bên ngoài.
- Christian Batal phân chia năng lực thành kiến thức, kỹ năng và thái độ - hành vi, đồng thời phân loại thành năng lực tổng hợp, năng lực chuyên môn và năng lực đặc thù.
- TS. Kerstin Keen (chuyên gia Thụy Điển trong dự án VIE/96/029 do UNDP tài trợ năm 2000) đưa ra định nghĩa xuất phát từ gốc tiếng Latinh competentia: "Năng lực là khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao", đồng thời đề xuất mô hình bàn tay 5 ngón tương ứng với 5 thành tố: kỹ năng (ngón cái), kiến thức (ngón trỏ), kinh nghiệm (ngón giữa), các mối quan hệ cá nhân (ngón áp út) và hệ thống giá trị sống (ngón út).
- E. Eyre và Richard Pettinger hệ thống hóa năng lực của nhà quản trị dưới dạng 14 phẩm chất cá nhân: tự tin, khát vọng, tự lực, kiên quyết, sẵn sàng chịu trách nhiệm, ủy quyền, óc phán đoán, thích nghi, khả năng tổ chức, khả năng chịu đựng, tính khách quan, làm việc nhóm, động viên nhân viên và có nền tảng giáo dục.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các tài liệu trước đây nghiên cứu năng lực ở dạng tâm lý học chung hoặc áp dụng cho nhà quản trị các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước. Chưa có công trình nào xác lập một khung năng lực hoàn chỉnh, phản ánh đặc thù của giám đốc DNTN tại Việt Nam – những người chịu chế độ trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản theo Luật Doanh nghiệp 2005. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng định nghĩa năng lực thực chất dựa trên kết quả hoàn thành nhiệm vụ và thiết lập khung phân tích gồm 7 yếu tố cấu thành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận về doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp:
- Căn cứ pháp lý: Điều 143 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định DNTN do một cá nhân làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp, không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào, mỗi cá nhân chỉ được thành lập một DNTN. Chủ DNTN có toàn quyền quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh và sử dụng lợi nhuận, có thể trực tiếp làm giám đốc hoặc thuê người khác nhưng vẫn chịu trách nhiệm cuối cùng.
- Định nghĩa năng lực quản trị của giám đốc DNTN do tác giả xây dựng: "Năng lực quản trị của giám đốc DNTN là khả năng hoàn thành nhiệm vụ quản trị DN, không đánh giá thông qua bằng cấp mà đánh giá thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ của người đó".
- Khung cấu thành năng lực gồm 7 yếu tố:
- Kiến thức: Hiểu biết về chiến lược, thị trường, luật pháp, quản trị nhân sự.
- Kỹ năng: Mức độ thành thạo bao gồm kỹ năng bao quát, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng kỹ thuật.
- Kinh nghiệm: Các bài học thực tiễn tích lũy qua thời gian giải quyết công việc.
- Các mối quan hệ: Mạng lưới liên kết cá nhân với khách hàng, nhà cung ứng, cơ quan quản lý.
- Sự mong muốn: Động cơ, hoài bão và niềm say mê kinh doanh.
- Quan niệm về trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh: Tuân thủ pháp luật, giữ chữ tín, bảo đảm quyền lợi người lao động.
- Các đặc điểm - phẩm chất cá nhân: Ý chí, tính tự lực, sự nhạy bén, khả năng chịu đựng áp lực.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
Luận án kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích văn bản pháp quy, logic học, so sánh, đối chiếu, điều tra khảo sát thực tế và tổng hợp dữ liệu. Đề tài áp dụng kỹ thuật thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) để xử lý thông tin khảo sát.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Các văn kiện Đại hội Đảng VI đến X; văn bản quy phạm pháp luật (Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005, Nghị định 88/2006/NĐ-CP, Chỉ thị 22/2007/CT-TTg); niên giám thống kê và báo cáo điều tra định kỳ giai đoạn 2001–2007 của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh; dữ liệu quản lý đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua bảng câu hỏi điều tra chọn mẫu đối với các giám đốc DNTN trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh về các khía cạnh: nhân khẩu học, trình độ học vấn, mức độ hiểu biết quản trị, phương pháp lập kế hoạch kinh doanh, mức độ thuần thục kỹ năng, việc khai thác các mối quan hệ, mức độ quan tâm đến trách nhiệm xã hội và nhu cầu tham gia các chuyên đề đào tạo.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Năng lực và năng lực quản trị giám đốc doanh nghiệp tư nhân
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về doanh nghiệp, phân loại hình thức sở hữu doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2005 (Công ty TNHH hai thành viên trở lên, Công ty TNHH một thành viên, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân, Nhóm công ty) và vai trò của DNTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tác giả chứng minh DNTN là động lực giải phóng sức sản xuất thông qua các dữ liệu thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001–2007:
- Vốn đầu tư của DNTN tăng từ 3.559 tỷ đồng (chiếm 1,76% tổng vốn các doanh nghiệp năm 2001) lên 12.416 tỷ đồng (chiếm 1,95% năm 2007).
- Về giải quyết việc làm, trong khi khu vực DNNN trung ương giảm từ 181.040 lao động (19,46% năm 2001) xuống 132.561 lao động (8,84% năm 2007), DNNN địa phương giảm từ 112.867 người (12,13%) xuống 86.014 người (5,74%), và doanh nghiệp tập thể giảm từ 33.771 người (3,63%) xuống 20.772 người (1,39%), thì DNTN tăng từ 42.215 lao động (4,54% năm 2001) lên 88.978 lao động (5,76% năm 2007). Toàn khu vực kinh tế tư nhân năm 2007 sử dụng 749.217 lao động, chiếm 49,96% tổng lao động doanh nghiệp trên địa bàn thành phố.
- Đóng góp ngân sách của DNTN tăng từ 207 tỷ đồng (1,2% năm 2001) lên 827 tỷ đồng (1,9% năm 2007). Tỷ trọng đóng góp vào GDP thành phố của toàn bộ kinh tế tư nhân tăng từ 11,5% năm 2001 lên 27,7% năm 2007.
Về mặt quản trị học, chương 1 phân tích chức năng, nhiệm vụ, vai trò và kỹ năng của giám đốc. Tác giả tổng hợp sự phân bổ thời gian cho các chức năng quản trị theo phân tích của Mahoney qua Bảng 1.1:
| Cấp bậc quản trị |
Hoạch định |
Tổ chức |
Điều khiển |
Kiểm tra |
| Quản trị viên cấp cao |
28% |
36% |
22% |
14% |
| Quản trị viên cấp trung |
18% |
33% |
36% |
13% |
| Quản trị viên cấp thấp |
15% |
24% |
51% |
10% |
Nguồn: Giáo trình Quản trị học, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, NXB Trẻ, 1996
Chương 1 cũng trích dẫn bảng so sánh giữa kiến thức và kỹ năng của TS. Kerstin Keen qua Bảng 1.4:
| Tiêu chí so sánh |
Kiến thức |
Kỹ năng |
| Con đường tiếp nhận |
Có được thông qua việc nghe và đọc, các sự kiện, số liệu có thể nhìn được |
Có được thông qua làm việc, bắt chước |
| Khả năng đánh giá |
Rất khó đánh giá được toàn bộ kiến thức của một con người |
Có thể được người khác đánh giá dễ dàng |
| Mức độ duy trì |
Dễ quên các sự kiện, số liệu |
Khó quên |
| Tính chất chuyển giao |
Học từ bên ngoài, dễ chuyển giao |
Tự rèn luyện là chính, khó chuyển giao |
Nguồn: Thuyết trình của TS. Kerstin Keen ngày 19/8/2000 tại TP.HCM
Từ việc phân tích 10 vai trò của Mintzberg, 3 kỹ năng của Ivancevich và mô hình bàn tay của Kerstin Keen, tác giả thiết lập 14 nhiệm vụ cụ thể của giám đốc DNTN (Điều 143 Luật Doanh nghiệp 2005) và chi tiết hóa 7 thành tố cấu thành năng lực, đồng thời tổng kết các bài học kinh nghiệm từ doanh nhân quốc tế.
Chương 2: Thực trạng năng lực quản trị giám đốc DNTN tại TP.HCM
Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về điều kiện kinh tế - xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, thực trạng DNTN và kết quả phân tích số liệu điều tra chọn mẫu đối với các giám đốc DNTN:
- Bảng 2.1 và 2.2 ghi nhận tốc độ tăng trưởng GDP và cơ cấu kinh tế TP.HCM giai đoạn 2001–2007.
- Bảng 2.3, 2.4 và 2.5 phản ánh số lượng, vốn và quy mô của DNTN; phần lớn DNTN có quy mô vốn nhỏ và số lượng lao động ít, khả năng chịu đựng chấn động thị trường thấp.
- Bảng 2.6 cho thấy tỷ lệ đóng BHXH, BHYT và kinh phí công đoàn của DNTN thấp hơn rõ rệt so với các loại hình doanh nghiệp khác.
- Bảng 2.7 và 2.8 phản ánh tỷ lệ DNTN kết nối Internet và xây dựng website còn rất khiêm tốn.
- Bảng 2.9 và 2.10 thống kê thu nhập bình quân của người lao động và tỷ suất lợi nhuận trên một đồng vốn của DNTN trong tương quan so sánh với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Kết quả điều tra thực nghiệm về năng lực giám đốc DNTN (Bảng 2.11 đến 2.16):
- Bảng 2.11: Đa số giám đốc có tuổi đời trung bình khá cao, tuổi nghề chưa nhiều, trình độ học vấn và bằng cấp chuyên môn quản trị không đồng đều; nhiều giám đốc chưa từng qua đào tạo bài bản về quản trị kinh doanh.
- Bảng 2.12 và 2.13: Mức độ hiểu biết về các nguyên lý quản trị cơ bản còn hạn chế; việc lập kế hoạch kinh doanh chủ yếu mang tính ngắn hạn, đối phó, thiếu tầm nhìn chiến lược dài hạn.
- Bảng 2.14: Mức độ thành thạo các kỹ năng quản trị cơ bản (đặc biệt là kỹ năng bao quát, hoạch định và phân tích tài chính) còn yếu, giám đốc chủ yếu thiên về điều hành tác nghiệp sự vụ hàng ngày.
- Bảng 2.15: Đánh giá cao và phụ thuộc nhiều vào các mối quan hệ cá nhân phi chính thức nhằm giải quyết thủ tục hoặc tìm kiếm cơ hội kinh doanh.
- Bảng 2.16: Các phẩm chất kiên trì, chịu khó được thể hiện rõ, nhưng nhận thức về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội chưa được coi trọng đúng mức.
Nhận xét tổng quát chương 2: Năng lực quản trị của giám đốc DNTN tại Thành phố Hồ Chí Minh bộc lộ sự thiếu hụt tri thức quản trị khoa học, thói quen kinh doanh theo kinh nghiệm cảm tính, phong cách làm việc tùy tiện, thiếu tính hợp tác và khả năng thích ứng hội nhập kinh tế quốc tế còn hạn chế.
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực quản trị giám đốc DNTN tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp nâng cao năng lực quản trị dựa trên 3 quan điểm chỉ đạo:
- Nhà nước phải tạo được môi trường pháp lý thuận lợi để các DNTN phát triển và hoạt động có hiệu quả.
- Thành phố cần có những chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực quản trị giám đốc DNTN.
- Bản thân giám đốc DNTN phải không ngừng nâng cao nhận thức, tự hoàn thiện năng lực của mình.
Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp thực hiện:
- Tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi: Minh bạch hóa thủ tục hành chính, cải cách kiểm tra thuế, bảo đảm quyền bình đẳng tiếp cận nguồn lực đất đai và tín dụng.
- Đào tạo và bồi dưỡng kiến thức: Thiết kế chương trình đào tạo sát thực tế, tập trung vào các chuyên đề mà giám đốc DNTN mong muốn (căn cứ theo kết quả điều tra tại Bảng 3.1) như quản trị chiến lược, quản trị tài chính, pháp luật kinh doanh, quản trị nhân sự và marketing.
- Nâng cao kinh nghiệm quản trị: Xây dựng phương pháp tổng kết thực tiễn, phân tích tình huống kinh doanh (case study), học tập mô hình quản trị hiệu quả.
- Hoàn thiện và củng cố các mối quan hệ: Thiết lập mối quan hệ hợp tác lành mạnh giữa doanh nghiệp với khách hàng, đối tác cung ứng và cơ quan quản lý nhà nước; hạn chế tối đa quan hệ vụ lợi, tiêu cực.
- Nâng cao trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh: Tuyên truyền nâng cao nhận thức về việc thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, an toàn lao động, bảo vệ môi trường và giữ gìn chữ tín trong giao kết hợp đồng.
- Rèn luyện phát triển phẩm chất cá nhân: Nâng cao ý thức tự học, rèn luyện tư duy khách quan, tác phong làm việc khoa học, khắc phục các thói quen tiêu cực.
Đồng thời, luận án đưa ra 3 nhóm kiến nghị cụ thể:
- Kiến nghị với lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh: Thành lập các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp, định kỳ tổ chức đối thoại công tư để tháo gỡ vướng mắc.
- Kiến nghị với các hiệp hội ngành nghề: Nâng cao vai trò cầu nối, tổ chức chia sẻ kinh nghiệm và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho hội viên.
- Kiến nghị với các cơ sở đào tạo: Đổi mới giáo trình quản trị theo hướng ứng dụng thực hành, linh hoạt thời gian đào tạo phù hợp với quỹ thời gian hạn hẹp của giám đốc DNTN.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa các quan điểm đường lối của Đảng về kinh tế tư nhân từ Đại hội VI đến Đại hội X; làm rõ vị trí, vai trò của DNTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đưa ra khái niệm năng lực quản trị của giám đốc DNTN gắn liền với khả năng hoàn thành nhiệm vụ và kết quả thực tế, thay vì dựa trên bằng cấp lý thuyết.
- Xác lập khung cấu thành năng lực gồm 7 yếu tố (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, quan hệ cá nhân, sự mong muốn, quan niệm trách nhiệm xã hội - đạo đức kinh doanh, phẩm chất cá nhân) trên cơ sở chọn lọc các mô hình quốc tế và trong nước.
- Đúc kết các bài học kinh nghiệm về quản trị của các doanh nhân quốc tế phù hợp cho việc vận dụng tại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn:
- Phân tích có hệ thống thực trạng hoạt động của DNTN và năng lực quản trị của giám đốc DNTN tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua chuỗi số liệu thứ cấp (2001–2007) và dữ liệu điều tra thực chứng.
- Chỉ rõ những mặt yếu kém cơ bản của đội ngũ giám đốc DNTN: hạn chế về kiến thức quản trị bài bản, yếu kỹ năng bao quát, phụ thuộc vào quan hệ thân hữu và thiếu quan tâm đến trách nhiệm xã hội.
- Đề xuất hệ thống đồng bộ gồm 3 quan điểm chỉ đạo, 6 nhóm giải pháp thực hiện và 3 nhóm kiến nghị với chính quyền thành phố, hiệp hội ngành nghề và cơ sở đào tạo nhằm nâng cao năng lực quản trị cho giám đốc DNTN.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm chỉ giới hạn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng so sánh với các vùng kinh tế trọng điểm khác.
- Đề tài tập trung nghiên cứu ở cấp độ "năng lực", chưa đi sâu phân tích hai cấp độ cao hơn là "tài năng" và "thiên tài" do tính chất đại diện phổ biến của giám đốc DNTN trong giai đoạn khảo sát.
- Phân tích thực trạng chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %), chưa áp dụng các mô hình định lượng phức tạp (như hồi quy đa biến hoặc mô hình phương trình cấu trúc) để đo lường trọng số tác động của từng yếu tố cấu thành đến hiệu quả kinh doanh.
- Số liệu thống kê vĩ mô của Cục Thống kê TP.HCM ở một số chỉ tiêu kinh tế chỉ thể hiện chung cho toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân mà chưa tách riêng dữ liệu độc lập cho loại hình DNTN.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát trên quy mô toàn quốc hoặc so sánh giữa các đô thị lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM).
- Xây dựng mô hình định lượng đo lường mối quan hệ nhân quả giữa các thành tố cấu thành năng lực và kết quả tài chính, phi tài chính của doanh nghiệp.
- Nghiên cứu sâu về các mô hình bồi dưỡng và tiêu chuẩn hóa chức danh giám đốc doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh thực thi đầy đủ các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh: Khung lý thuyết 7 yếu tố cấu thành năng lực và việc hệ thống hóa các chức năng, nhiệm vụ, vai trò quản trị tại Chương 1 cung cấp tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và phát triển các đề tài về hành vi tổ chức, phát triển nhân lực quản lý.
- Cơ quan quản lý nhà nước tại TP.HCM (UBND TP, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nội vụ): Các số liệu thống kê vĩ mô và kết quả điều tra tại Chương 2 giúp đánh giá đúng thực trạng của khu vực kinh tế tư nhân, làm cơ sở xây dựng chính sách trợ giúp phát triển doanh nghiệp dân doanh theo Chỉ thị 22/2007/CT-TTg.
- Các hiệp hội ngành nghề và cơ sở đào tạo: Danh mục các chuyên đề mong muốn đào tạo tại Bảng 3.1 là căn cứ thực tế để thiết kế chương trình bồi dưỡng giám đốc điều hành (CEO) phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Chủ doanh nghiệp và giám đốc DNTN: Bộ tiêu chí cấu thành năng lực giúp các nhà quản trị tự soi chiếu, nhận diện điểm nghẽn về kỹ năng và đạo đức kinh doanh để lập kế hoạch tự hoàn thiện.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa năng lực quản trị của giám đốc DNTN như thế nào?
Tác giả định nghĩa: Năng lực quản trị của giám đốc DNTN là khả năng hoàn thành nhiệm vụ quản trị doanh nghiệp, không đánh giá thông qua bằng cấp mà đánh giá thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ của người đó. Luận án phân định 3 cấp độ phát triển của năng lực: năng lực, tài năng và thiên tài, trong đó luận án tập trung nghiên cứu cấp độ năng lực thông thường.
2. Bảy yếu tố cấu thành năng lực quản trị của giám đốc DNTN theo đề xuất của luận án là gì?
Khung cấu thành năng lực gồm: (1) Kiến thức; (2) Kỹ năng; (3) Kinh nghiệm; (4) Các mối quan hệ; (5) Sự mong muốn (động cơ, hoài bão); (6) Quan niệm về trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh; (7) Các đặc điểm - phẩm chất cá nhân.
3. Số liệu trong luận án cho thấy khu vực DNTN và kinh tế tư nhân TP.HCM đóng góp như thế nào trong giai đoạn 2001–2007?
Theo số liệu của Cục Thống kê và Sở KH&ĐT TP.HCM được trích dẫn: Vốn đầu tư của DNTN tăng từ 3.559 tỷ đồng lên 12.416 tỷ đồng; lao động làm việc trong DNTN tăng từ 42.215 người lên 88.978 người; nộp ngân sách tăng từ 207 tỷ đồng lên 827 tỷ đồng. Tính chung toàn bộ kinh tế tư nhân, tỷ trọng sử dụng lao động tăng lên 49,96% (749.217 lao động) và đóng góp vào GDP thành phố tăng từ 11,5% lên 27,7%.
4. Mô hình bàn tay của TS. Kerstin Keen được luận án vận dụng như thế nào?
Luận án kế thừa mô hình bàn tay của TS. Kerstin Keen (UNDP, 2000) với 5 ngón tay đại diện cho 5 yếu tố của năng lực: ngón cái là kỹ năng, ngón trỏ là kiến thức, ngón giữa là kinh nghiệm, ngón áp út là các mối quan hệ cá nhân, và ngón út là hệ thống các giá trị sống. Tác giả đã kết hợp mô hình này với các lý thuyết quản trị khác để hoàn thiện khung 7 yếu tố năng lực của giám đốc DNTN.
5. Luận án chỉ ra những nguyên nhân cốt lõi nào dẫn đến sự hạn chế về năng lực của giám đốc DNTN tại TP.HCM?
Nguyên nhân gồm: (1) Quy định pháp lý thông thoáng không đòi hỏi tiêu chuẩn năng lực ban đầu khi lập doanh nghiệp; (2) DNTN mới phát triển nên doanh nhân thiếu kinh nghiệm cọ xát thương trường; (3) Môi trường pháp lý và quản lý nhà nước còn bất cập khiến doanh nhân có tâm lý đầu tư ngắn hạn, khai thác quan hệ thân hữu thay vì nâng cao năng lực nội tại; (4) Ảnh hưởng của các nhược điểm tâm lý xã hội như thiếu tính kỷ cương, làm việc tùy tiện, thiếu chữ tín và coi nhẹ khoa học quản trị.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trương Quang Dũng (2008) đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực quản trị, xây dựng khung khái niệm 7 yếu tố cấu thành phù hợp với đặc thù pháp lý và kinh tế của giám đốc DNTN tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích chuỗi dữ liệu thống kê giai đoạn 2001–2007 kết hợp với kết quả khảo sát thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh, luận án đã làm rõ thực trạng hạn chế về kiến thức, kỹ năng hoạch định, tính chuyên nghiệp và trách nhiệm xã hội của đội ngũ này. Hệ thống 3 quan điểm chỉ đạo, 6 nhóm giải pháp và 3 nhóm kiến nghị được đề xuất cung cấp luận cứ khoa học có giá trị cho công tác quản lý nhà nước, đào tạo bồi dưỡng và định hướng tự rèn luyện của đội ngũ doanh nhân tư nhân.